Thứ Sáu, 4 tháng 2, 2011

KHÔNG CÓ LUÂN HỒI

KHÔNG CÓ LUÂN HỒI

Đăng ngày: 05:32 05-02-2011
Thư mục: Tổng hợp

KHÔNG CÓ LUÂN HỒI

"Đi ngang qua, Chúa Giêsu nhìn thấy một người mù từ thuở mới sinh. Các môn đệ hỏi Người, "Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến cho người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?"

Chúa Giêsu đáp: "Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội; nhưng điều đó xẩy ra, để các việc của Thiên Chúa tỏ hiện nơi anh... Nói xong, Chúa Giêsu nhổ nươc miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo: 'Anh hãy đến hồ Si lô ác mà rửa'. Anh ta đi rửa và mắt được nhìn thấy" John 9:1- 6

"Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội; nhưng điều đó xẩy ra, để cac việc của Thiên Chúa tỏ hiện nơi anh..."

Lời đó của Chúa Giêsu xac nhận không có tiền kiêp, không có luân hồi, mà do thượng trí của Thiên Chúa cho phép điều đó xẩy ra.

Lời của Chúa Giêsu có đáng tin cậy không? Nếu bạn muốn phá đổ Lời của Chúa Giêsu, bạn phải làm được 2 điều:

1) Chứng minh không có Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ vạn vật.., mà tât cả do ngẫu nhiên mà có.

2) Bạn phải chứng minh Chúa Giêsu chỉ là phàm nhân, không phải là Thiên Chúa, như tôi đã dẫn chứng thái tử Tât Đạt Đa chỉ là phàm nhân, qua một số bài viết.

Hỏi bạn cho vui thôi. Nếu có ai chứng minh được không có Thiên Chúa, và Chúa Giêsu chỉ là phàm nhân, thì cộng sản Nga, Tàu, Việt, Hàn...tỷ phú, triệu phú vô thần, và bọn thờ satan đã làm rồi, không đợi đến phần bạn.

Tôi nge nói trươc đây ở Nga, Tàu... và cả ở Việtnam có nhóm nghiên cứu Thánh Kinh với mục đích đánh phá Thiên Chúa Giáo; nhưng một số người này, sau nhiều năm nghiên cứu Thánh Kinh, họ đã bỏ cộng sản và xin gia nhập Công Giáo, vì thế mà các nươc cộng sản phải huỷ bỏ kế hoạch này.

Trường hợp của Đại đức Huệ Nhật cũng gần giống, là trươc đây chẳng ưa gì Thánh Kinh, nhưng nhờ nhà thơ Bùi Giáng khuyên đọc Thánh Kinh. Lúc đầu Đại đức đọc chỉ vì tò mò, nhưng càng hiểu Thánh Kinh, ông có sự so sánh và càng nhận rõ Phật giáo không phải là chân đạo, vì thế ông đã cởi bỏ áo càsa, và địa vị một người Thầy, được tín đồ Phật giáo quỳ lạy và vâng lời. Hiện nay ông là Mục sư hăng say với Đạo Chúa.

Thêm điều nữa là số người nghiên cứu Phật giáo lâu dài, kỹ luõng đã bỏ Phật giáo về với Thiên Chúa giáo, như: Tiến sĩ Paul Williams, Học giả Ấnđộ Mashaba, Học giả Đạihàn Choi Nam Sơn, Bac sĩ Chang Shu Wen, tu sĩ Phật giáo Avada... đáng cho bạn suy nghĩ, vì sự lựa chọn lại, không ngoài lợi ich tôt nhất cho chính họ, ở hôm nay và ở cõi mai sau.

NguyễnHyVọng

Thứ Tư, 2 tháng 2, 2011

KITÔ GIÁO TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY





KITÔ GIÁO TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô

Trên Internet, tôi đọc một đoạn tin mà tôi cho là thật khó tin. Một Ủy ban của Cộng đồng châu Âu đã in ra hơn ba triệu cuốn Agenda (Sổ tay), để phân phát cho học sinh các trường trung học của Liên Hiệp Châu Âu, trong đó hoàn toàn không nhắc tới các ngày lễ của Kitô giáo, kể cả lễ Giáng Sinh, thế nhưng các lễ của Do-thái giáo, đạo Hin-đu (Ấn-độ), đạo người Sikhs và Hồi giáo thì lại được ghi đầy đủ. Tất nhiên một hành động như thế đã gây ngạc nhiên và thậm chí phẩn nộ trong quần chúng.

Mối thù ghét khó hiểu đối với Kitô giáo

Người ta hoàn toàn có lý khi nói tới một nỗi thù ghét Kitô giáo rất vô lối và vô lý tại châu Âu hiện nay. Người châu Âu lớn tiếng lên án chủ trương bài Do Thái (Antisemitism) và bài Hồi giáo (Islamophoby), và như thế là đúng, trong lúc chính họ lại chống Kitô giáo là đạo đã làm nên nền văn hoá của mình. Ít lâu nay, Đức Thánh Cha thường nói tới thái độ thù ghét này đối với Kitô giáo, (Christianophoby), được biểu lộ ra bằng nhiều cách. Chủ trương này không phải là nguyện vọng chung của quần chúng châu Âu mà do một số nhà chính trị và nhà hoạt động truyền thông tạo ra và tìm cách áp đặt trên dư luận.

Tìm cách xoá bỏ các dấu tích Kitô giáo trong xã hội

Câu chuyện thời sự về những cuốn sổ tay (Agenda) gợi cho tôi nhớ lại cuộc tranh luận chung quanh việc treo tượng thánh giá trong trường học tại Ý cách đây chỉ mấy năm. Đầu đuôi là do bà Lautzi, một phụ huynh học sinh phản đối nhà nước Ý và đòi phải cất các tượng thánh giá ra khỏi các phòng học của trường công, nơi các con bà theo học. Bà đòi hỏi chính quyền phải tôn trọng quyền của người công dân “được học hành và giáo dục phù hợp với những xác tín tôn giáo và triết lý của họ”, và trong trường hợp này, là sự tôn trọng tính trần tục của nhà nước. Chính quyền Ý coi tượng thánh giá trong các trường học không phải là một biểu lộ của niềm tin tôn giáo nhưng là một biểu thị văn hoá, vì Kitô giáo chiếm một vị trí rất đặc biệt trong văn hoá và lịch sử của nước Ý. Vì các toà án trong nước từ chối lời khiếu nại của bà, nên bà Lautzi đã nại lên Toà án châu Âu về Nhân quyền tại Strasbourg (Pháp). Toà án xét xử cho bà thắng kiện. Nhà nước Ý khiếu nại. Nhưng trong thực tế, phán quyết này đã bị từ chối bởi hầu hết mọi người khuynh hữu cũng như khuynh tả trong một nước vẫn còn chịu ảnh hưởng sâu đậm của đạo Công giáo. Một số nước, bắt đầu là Ba-lan, Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha, rồi 10 quốc gia khác cũng như một số tổ chức tôn giáo và ba mươi dân biểu của Quốc hội châu Âu đã lên tiếng ủng hộ chính phủ Ý.

Tranh cãi liên quan tới Kitô giáo trong Hiến chương châu Âu

Cũng chưa xa chúng ta bao nhiêu, trong cuộc tranh luận gay gắt ở châu Âu liên quan đến nội dung của Lời mở đầu của Hiến chương Liên hiệp châu Âu, đại diện chính quyền Pháp cũng nhất định chống lại việc nhắc tới Kitô giáo như yếu tố cốt yếu và tiêu biểu tạo nên văn hoá châu Âu. Họ bảo: Tây phương còn chịu ảnh hưởng của những tôn giáo khác như Do-thái giáo, Hồi giáo, và những nền văn hoá Hy-lạp, La-mã, celtic, slave. Đúng thế, nhưng không thể chối cãi rằng tất cả đã được tiếp thu, nhào nặn bởi Kitô giáo là nguyên lý sáng tạo, khiến cho văn hoá châu Âu mang một nét riêng tư độc đáo. Ngay cả phong trào Khai Sáng thế kỷ XVIII đề cao tự do, dân chủ, nhân vị, nhân quyền, v.v. mà nước Pháp rất hãnh diện, cũng vẫn còn gián tiếp chịu ảnh hưởng của di sản Kitô giáo bởi vì nếu không có Kitô giáo thì cũng không có những giá trị mới mẻ hiện đại kia. Cũng vậy, khoa học kỹ thuật tuy vẫn có nhiều ít nơi nhiều nền văn minh khác, nhưng cũng chỉ được phát triển quy mô và triệt để ở châu Âu Kitô giáo mà thôi. Nói như thế là để cho thấy vai trò đặc biệt của Kitô giáo đối với văn minh này. Tuy nhiên, sau nhiều tranh luận sôi nổi, cuối cùng người ta đã đi tới một sự thoả hiệp. Lời mở đầu của Hiến Chương Liên hiệp châu Âu hiện nay quy chiếu về “những di sản văn hoá, tôn giáo và nhân văn của châu Âu”. Danh từ “tôn giáo” được sử dụng thay cho “Kitô giáo”. Một thắng lợi đặc biệt của người Pháp.

Thái độ hai mặt

Trong thái độ của giới chính trị và truyền thông hiện nay, rõ ràng có sự kỳ thị đối với Kitô giáo. Hằng ngày, nhiều nơi trên thế giới người Kitô hữu bị đe doạ, bị đàn áp, bị bắt bớ, bị chém giết; nhà cửa họ, nhà thờ họ bị đốt phá. Bi đát nhất có lẽ là thiểu số người Kitô hữu ở Irak; những nhóm khủng bố làm mọi cách, kể cả chém giết để buộc họ phải rời đất nước ra đi. Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy nói tới một sự “thanh lọc tôn giáo”. Ở Pakistan, có luật chống xúc phạm tới nhà tiên tri Mohammed, tới Kinh Koran, thậm chí tới các nhà lãnh đạo Hồi giáo; những ai phạm luật này đều bị phạt hết sức nặng nề, không loại trừ bị xử tử. Bất cứ ai nghe một lời xúc phạm tới Hồi giáo đều có thể đến bót cảnh sát gần nhất và tố cáo. Nhưng ngay cả khi, trong một cuộc cãi vã giữa một người Hồi giáo và một người khác, người này nói xúc phạm tới người kia, người Hồi giáo vẫn có thể tố cáo họ về tội “phạm thánh” (blasphemy) –thật ra là vu cáo– và cảnh sát có quyền bắt họ nhốt ngay. Một vài nước còn có luật chống cải giáo (anti-conversion), theo nghĩa chính xác là cấm bỏ đạo mình đang theo để gia nhập một đạo khác, nhưng trong thực tế, luật này chỉ cấm người Hồi giáo hay người đạo Hin-đu cải đạo mà thôi, đàng khác nó còn nhắm tới mọi hoạt động truyền giáo hoặc bị coi là truyền giáo trực tiếp hay gián tiếp của các tôn giáo khác (thường nhằm vào Kitô giáo) đối với tín đồ Hồi giáo và đạo Hin-đu (Ấn Độ).
Tât cả những sự kiện nêu trên đều là vi phạm nhân quyền và quyền tự do tôn giáo. Nhưng lạ thay, hầu hết các chính phủ đều im lặng. Giả sử đó là tình cảnh của một thiểu số tín đồ Hồi giáo hay tín đồ của một tôn giáo khác trong một nước đa số theo Kitô giáo, chắc chắn các chính khách và giới truyền thông châu Âu đã làm ầm ĩ lên rồi. Thái độ hai mặt này mang tính chính trị hay ý thức hệ, chứ không liên quan tới lương tâm đạo đức muốn bảo vệ công lý.

Sứ điệp ngày hoà bình thế giới 1-1-2011

Chúng ta phải đọc và hiểu Sứ điệp của ĐGH Bênêđitô XVI “Tự do tôn giáo, con đường dẫn đến hoà bình” nhân ngày hoà bình thế giới 1-1-2011, trong bối cảnh tự do tôn giáo bị vi phạm nói trên. Ngay trong đoạn mở đầu Sứ điệp, Đức Thánh Cha viết:

Vào đầu Năm Mới, tôi muốn gửi lời chúc mừng đến tất cả mọi người và từng người; những lời cầu chúc khang an và thịnh vượng, nhưng nhất là lời cầu chúc an bình. Đáng tiếc là trong năm sắp chấm dứt cũng đã có những cuộc bách hại, kỳ thị và những hành vi kinh khủng bạo lực và bất bao dung về tôn giáo”. Rồi Đức Thánh Cha nhắc tới hai loại vi phạm tự do tôn giáo phổ biến hiện nay: “Thật là đau lòng khi nhận thấy tại một số miền trên thế giới người ta không thể tuyên xưng và tự do biểu lộ tôn giáo của mình, vì có nguy cơ bị mất mạng và mất tự do bản thân. Tại các miền khác, có những hình thức âm thầm và tinh vi hơn qua những thành kiến và chống đối các tín hữu và các biểu tượng tôn giáo ” (số 1).

Tự do tôn giáo có cội nguồn là phẩm giá con người, là bản tính siêu việt của con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Vi phạm quyền tự do tôn giáo là vi phạm nhân quyền. Tự do tôn giáo không giới hạn vào cá nhân mà còn có chiều kích xã hội, nó cũng không thu hẹp vào tự do phụng tự nhưng còn liên quan tới các hoạt động khác của tín hữu và tổ chức tôn giáo trong xã hội. Các cộng đoàn tôn giáo đóng góp không nhỏ cho công ích, đó là điều không thể phủ nhận. Đặc biệt nên nói tới đóng góp của tôn giáo về mặt luân lý đạo đức trong lãnh vực chính trị. Đức Bênêđitô khẳng định:

Ta có thể nói rằng, trong số các quyền và tự do cơ bản có căn cội trong phẩm giá con người, tự do tôn giáo có một qui chế đặc biệt. Khi tự do tôn giáo được nhìn nhận, thì phẩm giá con người được tôn trọng trong căn cội của nó và luân lý cũng như các định chế của các dân tộc được củng cố. Trái lại, khi tự do tôn giáo bị chối bỏ, khi người ta toan tính ngăn cản việc tuyên xưng tôn giáo hoặc tín ngưỡng và cuộc sống phù hợp với tôn giáo, thì người ta xúc phạm đến phẩm giá con người, và đồng thời đe dọa công lý và hòa bình, là những điều dựa trên trật tự ngay thẳng của xã hội được xây dựng dưới ánh sáng của Sự Thật và Sự Thiện Tối Cao” (số 5).

Nói cho cùng, vai trò thiết yếu của tôn giáo đối với đời sống con người, cá nhân cũng như thập thể, nằm trong lãnh vực luân lý đạo đức. Cả trong những trường hợp nó không được phép hoạt động trong phạm vi giáo dục, văn hoá và xã hội, một tôn giáo chân chính vẫn hữu ích cho cộng đồng như một “uy quyền” luân lý bảo vệ sự thiện và sự thật, và hướng dẫn tín đồ ăn ngay ở lành và trở nên người công dân tốt. Phải chăng chính là trong vai trò bảo vệ sự thật và sự thiện này mà Kitô giáo thường bị con người thời nay ghét bỏ vì họ có một quan niệm khác về tự do, chân lý và sự thiện?

19-1-2011

Tại sao Kitô giáo bị đánh phá ở khắp nơi?

Vì:

1. Quỷ Satan gen gét với những ai sẽ có hạnh phúc thiên đàng đời đời: những Kitô hữu, những hoàng tử, công chúa của Vua Trời. Ngược lại những kẻ đã theo Satan, đang bị Satan lừa gạt, đã ở trong lọ, trong lưới, trong tầm tay của Satan, thì có lýdo gì để Satan gen get?

2. Những kẻ thờ quỷ Satan cho biêt: "Satan get nhât là Công giáo, thứ nhì là Tin lành". Điều này dễ hiểu, vì số người Công giáo về thiên đàng nhiều nhất, kế là Tin lành.

3. Kitô giáo đưa ra những lời xác nhận về Thiên Chúa và con người: Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa đã chết và sống lại cho phần rỗi của chúng ta; ngược lại tất cả tôn giáo khác chối bỏ sự thật này; điều này đã minh chứng Kitô giáo trở thành duy nhât, là Đạo duy nhât có Đấng là chân lý: "Ta là Đường, là Sự Thật, là Sự Sống; không ai có thể đến cùng CHA, mà không qua Ta"

4. Giới hạn là khả năng của con người; mù là khả năng của nhân loại. Bằng cớ:

4.1. Hồ chí Minh và đảng cộng sản với mặt nạ "yêu nươc" chúng lừa gạt hằng triệu con người, thì với quỷ Satan, thầy của cộng sản, nó lừa gạt hằng tỷ con ngưòi không có gì khó hiểu. Satan đã mớm lời cho người lập ra thuyêt luân hồi, vô thần, cộng sản, tương đối, hiện sinh, tiến hóa, kỷ nguyên mới, trộn nhiều tôn giáo thành một, thờ tiền, danh vọng, thân xác.... vì thế mà đã có rât nhiều linh hồn đang ở trong hỏa ngục, nhiều người đang đi về hướng hỏa ngục, đang bị quỷ kéo vào hỏa ngục!!

4.2. Mọi phàm nhân đều không tự định đoạt cho chính mình khi vào đời, lúc lià đời, và cũng không biết số phận sẽ đi về đâu, sau khi lià đời, nghiã là hoàn toàn mù.

5. Thế giới có ngàn tôn giáo, nhưng có chỉ hai hạng người:

1) tin Thiên Chúa

2) tin nhảm nhí

Ngày Chung Thẩm chỉ có hai nơi:

1) đứng bên hữu Thẩm Phán Chí Công, vể thiên đàng hưởng hạnh phuc vĩnh cửu.

2) đứng bên tả Thẩm Phán Chí Công, vào hỏa ngục chịu khổ đau đời đời.

*

Kitô giáo bị đánh phá ở khăp nơi nhưng không hề hấn gì, vì Đấng lập Đạo là Thiên Chúa Toàn Năng, đã nói:

+ "Phêrô, trên tảng đá này, Thầy xây Hội Thánh của Thầy, mà quyền lực hoả ngục không thể phá nổi."

+ "Ta là Alpha và Omêga", nghiã là Lời Đầu Tiên và Lời Cuối Cùng thuộc về Thiên Chúa. Khốn cho những kẻ chống lại Thiên Chúa, vì ngày khủng khiếp đang đến với chúng, nếu chúng cứ tiếp tục con đường gian ác, vì chút lợi danh chóng qua ở cõi tạm này.

NguyễnHyVọng

Thứ Ba, 25 tháng 1, 2011

Tứ Bất Tử

Tứ Bất Tử





Chí Sĩ Ngô Đình Diệm: Tổng Thống Nước Việt Nam Cộng Hòa.Nhân dịp tưởng niệm lần thứ 46, kể từ ngày 01-11-1963, ngày vị anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã Vị Quốc Vong Thân. « Tứ Bất Tử » là lời của cổ nhân đã dạy, từ thuở xa xưa, tất cả nhân loại ở trên mặt địa cầu này ai cũng đều đã biết: con người sinh ra rồi ai cũng phải chết, mỗi cái chết đều khác nhau.

Nhưng, cổ nhân đã khẳng định có bốn cái chết để rồi vẫn sống mãi mãi với thời gian, đó là « Tứ bất tử », và trong bốn cái chết ấy gồm những bậc có công nghiệp như sau:

1- Có sự nghiệp lớn;
2- Có đạo đức lớn.
3- Có công ơn lớn ở người đời.
4- Có văn chương truyền được lâu dài.

Vậy, hôm nay, nhân dịp tưởng niệm lần thứ 46, kể từ ngày 01-11-1963, ngày vị anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam: Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã Vị Quốc Vong Thân cùng với nhị vị bào đệ là Ông Cố vấn Ngô Đình Nhu và Ông Cố vấn Ngô Đình Cẩn. Và cứ như theo lời của cổ nhân đã dạy, thì chỉ cần một chữ « Có » thì đã trở thành Bất Tử rồi. Nhưng Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì đã chiếm được đến ba chữ « có ». Bởi, tất cả các vị anh hùng ở trên thế giới này, họ thường chỉ được từ một đến hai chữ có. Nhưng riêng Tổng Thống Ngô Đình Diệm thì theo tôi, chỉ trừ chữ có thứ bốn là «Có văn chương truyền được lâu dài» thì Tổng Thống Ngô Đình Diệm chưa có tác phẩm văn chương nào để lại cho hậu thế, nhưng Người đã chiếm đến ba chữ « Có » trong « Tứ Bất Tử »:

1 – Sự nghiệp lớn: Đó là sự nghiệp đã khai sinh ra Thể Chế Cộng Hòa, tức đã khai sinh ra Nước Việt Nam Cộng Hòa, đồng thời đã xây dựng được một Miền Nam Tự Do và phồn thịnh, mà không phải do được các cường quốc viện trợ tiền rừng bạc biển.

2- Có đạo đức lớn: Người đã nêu cao đạo đức về nhiều phương diện đối với người dân. Cả cuộc đời Người không màng đến cao lương mỹ vị, không chăn ấm nệm êm, Người đã quên mình để chỉ ưu tư cho Tổ Quốc và Dân Tộc.

Vậy chúng ta hãy nghe những lời của Thiếu Tá, sau là Đại Tá Nguyễn Duệ, tác giả cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ngày 1-11-1963, Ông là Tham Mưu Phó, Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Tổng Thống Phủ, đã đề nghị Tổng Thống Ngô Đình Diệm cho xử dụng Thiết giáp và Bộ binh đánh thẳng vào Bộ Tham mưu, sào huyệt của phe « cách mạng », bắt sống toán đảo chính. Tổng Thống nghe nhưng không có ý kiến gì. Khi được tin Đính đã thực sự theo phe đảo chính, Tổng Thống Ngô Đình Diệm than với Đại úy Bằng, Sĩ quan Cận vệ, là « Cháy nhà mới ra mặt chuột ». Và « Khi lục soát tử thi, người ta tìm thấy trong tử thi của Tổng Thống Ngô Đình Diệm nửa bao thuốc lá Bastos xanh và một chuỗi Tràng Hạt!!! »

« Lúc gần sáng Tổng Thống Ngô Đình Diệm, đã ra lệnh buông súng, vì không muốn binh sĩ đổ máu vì Ông, tôi thấy rã rời, thất vọng. Nhưng vẫn còn chút hy vọng mong manh, là Ông sẽ được đối xử tử tế bởi các tướng lãnh làm đảo chính, vì hầu hết những người này đều do Ông gắn sao cho họ. Chẳng bao lâu, được tin Ông chết. Nghĩ mà thương cho Ông, vì sợ anh em vì bảo vệ cho Ông mà đổ máu, sợ anh em giao tranh với nhau mất tiềm lực chống cộng, mà Ông bị làm nhục, phải chết trong tay những kẻ vũ phu, trong một xe thiết giáp ».

Trên đây, là những dòng của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ đã viết trong cuốn sách: "Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm", nơi trang số 169, thì chắc hẳn mọi người đều đã thấy được: cho đến giờ phút cuối của cuộc đời, giữa lúc tử – sinh, mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm vẫn không muốn có một người chiến sĩ nào phải đổ máu để bảo vệ cho mình. Ôi! một tấm lòng cao cả: ngất ngưỡng như ngọn Hy Mã Lạp Sơn, và mênh mông như Ngũ Đại Dương góp lại.

Tôi cũng xin nói thêm là tấm hình của Tổng Thống Ngô Đình Diệm mà tôi đã đưa lên trên của bài viết này là tấm hình của bìa cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, của Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, theo Đại tá, thì Ông viết cuốn sách này, mục đích là để tặng cho những người còn giữ được lòng trung thành với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chứ không có mục đích thương mại. Trước đây, lúc Ông còn khỏe Ông vẫn thường xuyên viết trên Văn Nghệ Tiền Phong, Ông đã ký tên: Nhật Lệ Nguyễn Hữu Duệ. Và Ông đã từ Hoa Kỳ gửi sang Pháp quốc, với những dòng chữ mà chính tay Ông đã viết tặng tôi vào ngày 24-11-2003. Phía sau bìa sách, Ông có chú thích tấm hình của Tổng Thống Ngô Đình Diệm là của Bác sĩ Giáp Phúc Đạt cho Ông được xử dụng. Hôm nay, tôi đưa tấm hình của Tổng Thống Ngô Đình Diệm lên trên bài viết này cũng cùng như ý Nguyện của Đại tá Nguyễn Hữu Duệ và của Bác sĩ Giáp Phúc Đạt, nghĩa là để cho các vị: những người còn giữ được nguyên vẹn một tấm lòng trung nghĩa với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, để các vị được thấy lại hình ảnh của Vị Anh Hùng của Dân Tộc. Vậy, tôi rất mong quý vị trên các diễn đàn chớ lấy tấm hình của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cho những mục đích khác. Đặc biệt, đối với những kẻ đã từng hạ bút viết những lời lẽ xúc phạm đến thanh danh của Tổng Thống, thì tuyệt đối không được lấy tấm hình của Tổng Thống, bởi những bàn tay đó, đã vô cùng bẩn thỉu khi dám viết lên những lời lẽ xuyên tạc, đầy ác ý, để bôi nhọ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, và cả dòng họ Ngô Đình.

Và bây giờ tôi phải trở lại với chữ « Có » thứ 3 của « Tứ Bất Tử »:

Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã có công ơn lớn với tất cả mọi người dân miền Nam: Kể từ sau ngày 20-7-1954: Đó là: Công Cuộc Xây Dựng Tự Do – Thanh Bình – Phồn Thịnh Tại Miền Nam.

Chúng ta là những người dân của miền Nam, có lẽ nào lại quên rằng: Vào những năm từ 1954, đến đầu thập niên 1960. Dưới ánh sáng mới của Chính Thể Cộng Hòa. Dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Là những người Việt Nam đã từng sống vào thời kỳ ấy. Tất cả đều đã thấy được một Miền Nam Thanh Bình-Tự Do-no ấm thực sự.

Ngày ấy, nếu những ai đã từng sống với những cảnh đêm về, dưới ánh trăng lành, trên khắp nẻo đường quê, bên những lũy tre làng rộn rã những bước chân của lớp người trai trẻ, với hình ảnh hiền hòa, chân phác. Họ đã đến với nhau trong những lần sinh hoạt của thanh niên, cùng nhau hòa lời ca với tiếng đàn Mandoline, với những bài hát ca ngợi quê hương dưới cảnh thanh bình. Bởi vậy, tôi vẫn nhớ dù không đầy đủ những bài ca, có bài tôi chỉ còn nhớ một đôi câu, hoặc một vài điệp khúc như sau:

“Đây phương Nam, đây ruộng Cà Mau no lành. Có tiếng hát êm đềm trong suốt đêm thanh. Quê hương anh lúa ngập khắp bờ ruộng xanh. Lúa về báo nhiều tin lành, từ khắp đồng quê cùng kinh thành …

Đây phương Nam, đây tình Cần Thơ êm đềm. Có lúa tốt quanh vùng nuôi sức dân thêm. Quê hương em bóng dừa ấp ủ dịu êm. Những chiều trăng rọi bên thềm, vọng tiếng khoan hò về êm đềm …

Ai vô Nam, ngơ ngẩn vì muôn câu hò. Những tiếng đó khơi lòng vui sống ấm no. Trăng phương Nam sáng tỏa khắp bờ Cửu Long. Nước chảy con thuyền xuôi giòng, vọng tiếng khoan hò làm ấm lòng… ».

Trên đây là những lời quê mà tôi muốn ghi lại, để các vị cao niên đã từng sống, từng chứng kiến những cảnh thanh bình nơi cố lý, của một thời đã mất, và sẽ không bao giờ còn tìm gặp lại, dù chỉ một lần nào nữa.!!!

Và đó, là « Có công ơn lớn ở người đời »; bởi Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Người đã tận hiến cả cuộc đời từ thuở còn trai trẻ, cho đến giờ phút cuối cùng đã Vị Quốc Vong Thân.

Nhưng rồi những cảnh thanh bình ấy, đã bị bức tử khi cái gọi là « Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam » ra đời. Mà ác hại thay, những người công khai lãnh đạo cái mặt trận này lại là những « trí thức » đã được ăn cơm Quốc Gia nhưng lại thờ ma cộng sản, và những « nhà tu hành » của Phật giáo Ấn Quang. Những « nhà sư » đó sau ngày 30-4-1975, họ là « Hòa Thượng- Thượng tọa » đã được cộng sản Hà Nội trao gắn đầy những tấm Huân chương, Huy chương, là những bằng chứng về những hành vi và cũng là tội ác đã từng làm giặc, mà sư sãi Ấn Quang không có cách nào chạy chối cho được.

Chính những kẻ « tu hành » bất nhân, thất đức như Thích Đôn Hậu – Thích Trí Quang – Thích Đức Nhuận – Thích Huyền Quang – Thích Quảng Độ v…v… và những tên đâm thuê, giết mướn như: Dương Văn Minh – Nguyễn Khánh – Trần Thiện Khiêm – Đỗ Mậu – Nguyễn Chánh Thi – Trần văn Đôn – Dương Hiếu Nghĩa v…v… chúng đã nhúng tay vào máu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Chính những kẻ này, đã làm cho Miền Nam Tự Do phải sụp đổ, khiến cho hàng triệu Quân-Dân-Cán-Chí nh Việt Nam Cộng Hòa phải chịu cảnh đọa đày trong các « Trại tù cải tạo », với những cực hình dã man, tàn bạo nhất, có người đã chết ở bên bờ kẽm gai oan nghiệt của nhà tù. Và đã không biết bao nhiêu người đã chết nơi rừng thiêng, nước độc ở các « vùng kinh tế mới »; và đau thương nhất là những em bé gái đã chết dưới những bàn tay của những tên hải tặc, đã làm mồi cho cá, cho thú rừng, hay đã vùi thây trên ngàn dưới biển trên đường chạy trốn ngục tù cộng sản?!!!

Ngoài những thảm cảnh đó. Chính những kẻ này đã đẩy lớp trẻ vào bước đường cùng, thương luân, bại lý!!!

Riêng Đỗ Mậu, vốn là một tên gian manh, phản phúc, nên chẳng những đã nhúng tay vào máu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mà sau đó, hắn còn bắt giam rất nhiều vị, chỉ vì không ủng hộ đảo chính, trong đó có Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ. Song cũng chưa thỏa mãn, mà cho đến mãi sau này, khi đã chạy sang nước Mỹ, Đỗ Mậu cũng đã gian manh khi đã vẽ vời ra những câu chuyện láo khoét, rồi hắn đã nhờ đến mấy tên tay sai của Việt cộng, đã viết cho hắn cái cuốn: Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, mà nội dung, thì ngoài những lời kể của hắn, lại được mấy tên lưu manh này dàn dựng thêm vô số những chuyện trên trời, dưới đất, mục đích để bôi nhọ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cả dòng họ Ngô Đình, và tên khố xanh Đỗ Mậu, hắn cũng đã về Việt Nam để công khai tái bản cuốn « Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi » và hắn đã chết sau những tháng ngày ngồi trên chiếc xe lăn tại « quê hương » của hắn. Nhưng có một điều là bọn này không biết rằng: Ông Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng, Chủ nhiệm Bán Nguyệt San Văn Nghệ Tiền Phong, một tờ báo sống thọ nhất, kể từ lúc mới ra đời từ năm 1956, ông đã tìm hiểu, và đã biết được những tên đã núp ở phía trong cái quần của tên lính khố xanh Đỗ Mậu, để hoàn thành cái cuốn sách rác rưởi đó. Do đó, mà ông Nguyễn Thanh Hoàng đã cho mấy tên này ra rìa khỏi tờ Văn Nghệ Tiền Phong.

Song nói đến Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mà không nói đến Ông Ngô Đình Luyện là một điều vô cùng thiếu sót; bởi ông Ngô Đình Luyện cũng là một người đã hết lòng phụng sự cho Quốc Gia và Dân Tộc. Song cả một đời của ông Ngô Đình Luyện cũng không hề được hưởng sự giàu sang phú quý, như những lời của những kẻ bất lương xuyên tạc. Vậy, một lần nữa, tôi xin trích một đoạn ngắn những lời kể của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ trong thời gian gặp gỡ ông Ngô Đình Luyện tại Mỹ như sau:

« Trên máy bay, khi từ toilets ra, dây lưng bị đứt, khiến quần ông muốn tụt ra, vì ông mặc đồ cũ từ ngày xưa, nay ông ốm hơn nhiều. Tôi phải tháo dây lưng của tôi cho ông dùng. Tôi cảm thấy thương ông, vì ông nói rằng cả chục năm nay, ông chưa mua quần áo mới và thay dây lưng.

Ông nắm tay tôi và chảy nước mắt, làm tôi cảm động.

Khi về Pháp, ông viết cho tôi một lá thư khá dài để cám ơn, nhắc lại cái dây lưng, và nói sẽ giữ suốt đời để làm kỷ niệm ».

Ôi! Suốt cả cuộc đời của các Huynh–Đệ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã sống trong thanh khiết, chỉ biết đặt Tổ Quốc và Dân Tộc lên trên hết.

Còn gì đáng kính phục, đáng thương hơn, đau lòng hơn, khi một vị Tổng Thống sau khi bị bọn đâm thuê, chém mướn giết chết, khi lục lọi cả tử thi của Người mà chỉ tìm được vỏn vẹn chỉ nữa gói thuốc Bastos xanh và một chuỗi Tràng Hạt còn vương đọng những giọt máu thiêng của vị Anh Hùng của Dân Tộc: Chí Sĩ Ngô Đình Diệm!!!

Ôi! Không có một ngôn từ nào của nhân loại để có thể diễn đạt cho vừa những trang sử đầy đau thương và đẫm máu này???!!!

Riêng tôi, khi viết lên những dòng này, tôi đã phải bao lần bị đứt quãng, vì không cầm được nước mắt, và mỗi lần như thế, những dòng nước mắt của tôi đã rơi xuống trên chiếc bàn phím này. Đây không phải là lần đầu tiên, mà mỗi lần nhìn tấm hình của Tổng Thống Ngô Đình Diệm là nước mắt của tôi lại cứ ứa ra, những giọt nước mắt của một con dân Việt đã khóc cho Người, khóc cho một Nước Việt Nam Cộng Hòa đã bị sụp đổ, song không phải sụp đổ vào ngày 30-4-1975, mà nó thực sự bắt đầu sụp đổ vào ngày 1-11-1963. Nhưng có một điều mà trước đây, ít ai nghĩ đến, là ngày đó Tổng Tổng Ngô Đình Diệm đã bị giết chết. Nhưng, Vị Tổng Thống đã Hồi Sinh ngay sau đó, và đã trở thành Bậc Anh Hùng Bất Tử.

« Nhân-Quả »

Viết đến đây, tôi muốn nói đến những kẻ đã từng tham dự vào vũng máu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng nhị vị bào đệ. Những kẻ đó, có người đã chết. Nhưng trước khi chết, họ đã sống trong những tháng ngày đau khổ từ thân xác đến tinh thần, bởi bị chính lương tâm của họ kết tội. Có kẻ hàng ngày đau đớn ngồi trên chiếc xe lăn. Cũng có người đã bị chính vợ và con của họ đày đọa. Có kẻ trước khi chết đã bị chính con trai ruột của mình đã đuổi ra khỏi nhà giữa đêm đông giá buốt của Trời Âu. Và đó, là cái « Quả » mà họ đã phải gặt từ cái « Nhân » mà họ đã từng gieo trước đó. Riêng những kẻ đã từng núp trong cái khố xanh của Đỗ Mậu hiện vẫn còn sống, nhưng tôi tin rồi sẽ có một ngày chúng cũng sẽ ngồi trên chiếc xe lăn trước khi gục chết như tên Đỗ Mậu.

Ngoài ra, một số tên vẫn còn sống trong những thứ hư danh, những kẻ đó, có lẽ nào trong suốt bao nhiêu năm qua, mà không một lần nữa đêm tỉnh giấc, vì hình ảnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cùng nhị vị bào đệ là ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn, với thân xác nhuộm đầy máu. Hoặc hình ảnh của một vị Tổng Thống với ánh mắt nhân từ, đã từng thân ái cài lên ngực áo của họ những chiếc lon từ cấp Úy, Tá, Tướng, để từ đó họ bước lên đài danh vọng. Và để rồi sau đó, họ đã lấy oán trả ân, bằng dã tâm thua cả loài lang sói. Chúng đã giết chết chính người đã thi ân cho chúng, chúng đã mất cả lương tri, thua cả một con chó, vì loài chó dù cho có đói đến đâu, nó cũng đành chịu chết, chứ chúng không bao giờ ăn thịt của đồng loại (chó). Chúng cũng không bao giờ cắn chủ, kể cả người đã cho nó ăn, dù chỉ một lần.

Đến đây, tôi muốn nói tới Tướng Nguyễn Khánh. Bởi ông ta cũng là một kẻ bất nhân, bất nghĩa, bất lương, Nguyễn Khánh đã vô cùng tàn ác, khi xuống tay giết chết một người vô tội là ông Ngô Đình Cẩn là bào đệ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Nên biết, những người dân chân thực tại miền Trung, họ đều biết về ông Ngô Đình Cẩn là một người Đại Hiếu- Tận Trung và Nhân Từ, không như những kẻ đâm thuê, giết mướn với lòng dạ bạc ác, bất nhân đã cố tình tuyên truyền, xuyên tạc với những chuyện động Trời như: « Ông Cẩn giết các nhà sư rồi chôn dưới gốc cây cam, mỗi gốc cây cam trong vườn của ông Cẩn là một xác nhà sư ». Và cũng nên biết, trước khi ông Ngô Đình Cẩn bị xử bắn, thì một « Ủy Ban Điều Tra Tội Ác Gia Đình Nhà Ngô » đã được thành lập, và ủy ban này đã đến tận nơi, đã đào tận gốc rễ của từng gốc cây cam. Lúc ấy, mọi chuyện đều đã sáng tỏ, là không hề có một xác người hay vật gì dưới những gốc cây cam.

Sau đó, mặc dù « Ủy Ban Điều Tra Tội Ác Gia Đình Nhà Ngô » đã lập biên bản với nhiều chữ ký của các vị trong « Ủy Ban » này, và đem trình lên các cơ quan hữu trách, nhưng tướng Nguyễn Khánh đã không thèm ngó tới, không cần đến sự thật, mà đã cương quyết phải giết chết ông Ngô Đình Cẩn cho bằng được.

Nguyễn Khánh thật vô cùng tàn ác, khi xuống tay để giết chết ông Ngô Đình Cẩn trong lúc ông đang bệnh nặng, nằm liệt giường tại khám Chí Hòa, vì thương Mẹ già, vì đau xót về cái chết thảm của nhị vị bào huynh. Nguyễn Khánh nên nhớ, khi ông ta giết ông Ngô Đình Cẩn, là ông đã giết cùng lúc thêm hai mạng người nữa, vì ngay sau đó, Cụ Bà Thân Mẫu của ba vị đã vì quá đau đớn, nên cũng đã chết theo ba người con.

Ôi! ai đã từng « Tre già khóc măng » thì mới thấu được nổi đau đớn của Mẫu Thân của Tổng Thống Ngô Đình Diệm!!!

Và cũng trong cuốn sách: Nhớ Lại Những Ngày Ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm của Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ, ông đã viết về ông Ngô Đình Cẩn nơi trang số 118 – 119, như sau:

« Ông Khánh lãnh đạo Quốc Gia, mà hành động như một thằng hề, trái hẳn với Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Ông Khánh rất sợ báo chí, sinh viên, nhất là các thượng tọa, như sợ cha đẻ vậy. Tôi bất bình nhất là ngày ông « chỉnh lý » ông chê « ông Minh đã giết anh em ông Diệm một cách dã man » rồi ông kể lể làm như thương và phục Tổng Thống Ngô Đình Diệm lắm, để lấy lòng anh em chế độ cũ. Nhưng khi ra Huế gặp thượng tọa Trí Quang là sợ ngay, là ký giấy hành quyết ông Cẩn là người độc nhất còn ở Việt Nam. Vả lại ông Cẩn đang bệnh tật nặng ở khám Chí Hòa, và chả có tội gì rõ ràng để bị xử bắn.

Sau này anh Tuyên là em của Đức Cha Nguyễn Văn Thuận, là cháu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm kể với tôi rằng: ông Khánh cho người liên lạc với gia đình đòi một số tiền để giữ mạng sống cho ông Cẩn, số tiền là tám mươi triệu. Nếu đủ sức thì cả dòng họ sẽ đóng góp để lo, nhưng nhiều quá thì chạy đâu ra. Anh Tuyên hiện đang ở Hoa Kỳ. tôi thấy « gian hùng như Tào Tháo » mà mọi người vẫn gán cho ông là quá đúng ».

Thực ra, ngoài chuyện Nguyễn Khánh đã đòi tiền chuộc mạng, ông Ngô Đình Cẩn cũng đã chết vì đặt lòng tin vào những tên thầy chùa của Phật giáo Ấn Quang như: Thích Trí Quang – Thích Đôn Hậu vv… Nên biết, vào thời đó, ông Ngô Đình Cẩn đã nuôi các sư sãi Ấn Quang trong nhiều chùa tại miền Trung, đặc biệt là các chùa Thiên Mụ, Từ Đàm, Từ Hiếu v …v… tại Huế, chính ông Ngô Đình Cẩn đã từng lo hết sức chu đáo cho mấy chùa này từ gạo, tương v…v…và cung cấp cả tiền bạc, phương tiện di chuyển, Ông đã xem Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu là thượng khách. Nhưng rồi ông Ngô Đình Cẩn đã chết về tay của chính Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu. Và tướng Khánh đã giết ông Ngô Đình Cẩn, còn vì lời giao ước với Thích Trí Quang và Thích Đôn Hậu.

Nhưng Nguyễn Khánh còn một hành vi tàn ác nữa, là đã xử bắn ông Phan Quang Đông, là người chịu trách nhiệm lo cho những vị mà do ông Ngô Đình Nhu và Ông Ngô Đình Cẩn đã đưa họ trở về miền Bắc ngay khi họ vừa vào Nam, hoặc sau đó. Nên nhớ, khi giết chết ông Phan Quang Đông là Nguyễn Khánh đã chặt tay, chặt chân, cắt đứt con đường về của các chiến sĩ đã được đưa ra miền Bắc để sống trong lòng địch. Và bởi không có đường về, nên họ đã phải tự tìm cách để sống còn trong mỏi mòn chờ đợi, cho đến ngày 30-4-1975, thì họ đã hoàn toàn tuyệt vọng. Vì thế, nên có người đã phải chết trong uất hận khôn nguôi!!!

Song rồi cuối cùng Nguyễn Khánh cũng đã biết, đã thấy rõ là Phật giáo Ấn Quang không bao giờ giữ lời giao ước với bất cứ một ai, kể cả tôn giáo, đảng phái hay người của một cường quốc.

Bởi, Ấn Quang chỉ lợi dụng tất cả những « chính khách » hoặc cá nhân cũng như đoàn thể, kể cả ngoại nhân. Đồng thời cũng lợi dụng lòng yêu nước của người dân Việt, để tóm thâu « Sơn Hà Xã Tắc » vào trong lòng bàn tay độc nhất, và chỉ riêng là của Ấn Quang mà thôi.

Với cuồng vọng ấy, Ấn Quang đã, đang và sẽ không từ bất cứ một thủ đoạn nào, kể cả giết hại người thân yêu, cốt nhục. Vì Phật giáo Ấn Quang đã học tập, đã thấm nhuần và đã quyết tâm lấy « Cứu cánh để biện minh cho phương tiện ».

Nhưng, như lời Đức Phật đã dạy về luật « Nhân-Quả ». Vì thế, tất cả những kẻ đã gieo những « Nhân » nào, thì tất nhiên phải có một ngày sẽ phải gặt lấy cái kết « Quả » ấy.

Riêng về việc “Vinh Danh”, Tổ chức Lễ giỗ, tạc tượng, lập đền thờ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, thì bất cứ ai muốn núp dưới ánh hào quang của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, thì muốn nói, muốn viết và muốn làm gì cũng được, vì chẳng có ai cấm. Nhưng, tất cả phải nên nhớ cho rằng: Những lời nói, những bài viết mà những kẻ đó đã viết ra bằng giấy trắng mực đen, tất cả vẫn còn lưu giữ trên sách, báo, trên mạng lưới toàn cầu, chúng sẽ không bao giờ bôi xóa cho hết được. Đừng có mơ rằng sẽ lừa bịp được thiên hạ.

Và nhân đây, tôi muốn nói với những kẻ ấy rằng: Tại sao ông Ngô Đình Quỳnh, thứ nam của ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, năm nay đã gần sáu mươi tuổi, mà vẫn sống độc thân, không lấy vợ, ông có học vị Tiến Sĩ Kinh Tế, đang làm đại diện cho nhiều công ty của nhiều nước, trong đó có Hoa Kỳ, ông không thiếu tiền bạc, song ông không bỏ tiền ra để xây mộ cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu và Ông Ngô Đình Cẩn, mà tất cả tiền lương của ông, ông chỉ dành chút đỉnh để sống, còn tất cả Ông đã đem dâng hiến cho các cơ sở từ thiện???

Nên biết, ba ngôi mộ của ba vị tại Lái thiêu, Việt Nam, chỉ khắc mỗi ngôi mộ với chữ “Huynh” và “Đệ”, là không phải do các con, các cháu của ba vị, hay của các vị trong dòng họ Ngô Đình đã bỏ công, bỏ của ra để xây ba ngôi mộ đó.

Ôi! ba ngôi mộ không khắc ghi tên tuổi, chỉ vỏn vẹn có chữ “Huynh” và “Đệ”, song hiện nay, tại Việt Nam, cứ mỗi ngày sự linh thiêng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm càng vang vọng, và mỗi ngày càng tăng thêm con số của những người dân từ khắp nơi đã đổ về Lái Thiêu, để tìm đến ba ngôi mộ, để cầu xin những điều mà chính con người và khoa học không thể làm nổi, nhưng chỉ cần đến thắp một nén hương cắm lên ba ngôi mộ, với những lời cầu xin chân thành, thì Anh Hồn của Tổng Thống Ngô Đình Diệm sẽ cho họ được toại nguyện.

Mọi người cũng cần phải biết rằng: Việc tạc tượng hay lập đền thờ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm không phải là chuyện của một tổ chức hay của một nhóm người. Mà việc đó phải do một chính phủ, một chính phủ phải do mọi người dân bầu ra, rồi chính phủ ấy bắt buộc phải trả lại công đạo cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng nhị vị Bào đệ là ông cố vấn Ngô Đình Nhu và Ông Ngô Đình Cẩn, và sẽ được quyết định bởi Quốc Hội của một Thể Chế.

Và sau khi đã được sự đồng thuận, Quốc Hội sẽ công bố một định luật, thì ngay trên đất nước Việt Nam sẽ có những Đại Lộ Ngô Đình Diệm – Đại Lộ Ngô Đình Nhu – Đại lộ Ngô Đình Cẩn, đồng thời sẽ có những Đền Thờ Tổng Thống Ngô Đình Diệm cùng nhị vị Bào đệ, và một trang sử mới cũng sẽ được khắc ghi thêm tên tuổi của ba vị anh hùng đã cương quyết để bảo vệ Tổng Thống, mà chính bọn Hội Đồng Gian Nhân Phản Loạn đã biết chắc chắn, là phải bước qua xác chết của cả ba người thì mới giết được vị Tổng Thống. Chính vì thế, mà bọn chúng đã giết cả ba vị, đó là: Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Đại Tá Lê Quang Tung cùng người em ruột là Thiếu Tá Lê Quang Triệu. Và rồi những Bảo Tàng Thư và những con đường sẽ được mang tên của nhiều vị Anh Hùng của Dân Tộc đã Vị Quốc Vong Thân.

Những kẻ bán buôn chính trị hãy nhớ cho thật kỹ những điều đó.

Tạm Thay Lời Kết:

Như Nhân loại đã từng chứng kiến, kể từ thời Sáng Thế, từ Đông sang Tây. Lịch sử đã chứng minh, hể cái gì nó đã trở thành chân lý, thì con người có dùng mọi thủ đoạn gian manh đến đâu, cũng không bao giờ thay đổi chân lý đó cho được.

Bởi vậy, mà cho dù bao nhiêu năm qua, đã có rất nhiều kẻ manh tâm đã từng dùng những ngụy bút, ngụy sách, ngụy báo, để cố tình bịa đặt, xuyên tạc, để bôi nhọ, mục đích là để hạ thấp uy danh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, để mong làm tróc thủy* phần nào của một tấm gương, nhưng dù cho đến ngày tận thế, thì bọn chúng cũng đừng hòng được toại ý, vì tấm gương ấy quá toàn bích.

Chính vì thế, mà tôi đoan chắc rằng: Không phải riêng đối với những tên gian manh kia, mà cả trên quả địa cầu này, cũng không một ai có thể làm nổi chuyện đó, bởi lịch sử vốn công bằng, bởi Tổng Thống Ngô Đình Diệm Người đã có Công Nghiệp Vĩ Đại là đã khai sinh ra nước Việt Nam Cộng Hòa. Đã một thời xây dựng được một Miền Nam Tự Do Thanh Bình thực sự. Và với Tài-Đức, Liêm-Khiết, Nhân-Từ: Người đã tận hiến cả đời mình cho Quốc Gia và Dân Tộc, với chân lý đó, thì:

Đời Đời hình ảnh của Chí Sĩ Ngô Đình Diệm: Bậc Anh Hùng đã Vị Quốc Vong Thân vấn mãi mãi uy-nghi, ngời sáng và Bất-Tử trong tâm trí của tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính.
HÀN GIANG Trần Lệ Tuyền

Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

Cuộc Sống Khi Vắng Chúa

Cuộc Sống Khi Vắng Chúa




Sau biến cố 11.9.2005 tại Mỹ, con gái của một vị giảng thuyết nổi tiếng được mời trả lời phỏng vấn trên truyền hình và người hướng dẫn chương trình đã hỏi cô ấy như sau:

- Tại sao Thiên Chúa lại có thể để xảy ra một thảm họa khủng khiếp như vậy ?

Với giọng xác tín, cô trả lời:

- Tôi nghĩ là Thiên Chúa rất buồn vì điều đó, ít nhất là Ngài cũng buồn bằng chúng ta. Nhưng từ bao năm nay, chúng ta đã yêu cầu Ngài đi ra khỏi trường học, khỏi gia đình, khỏi chính phủ và khỏi đời sống của chúng ta. Ngài là « quân tử » nên đã lẳng lặng rút lui. Làm sao chúng ta có thể mong Chúa ban ơn lành và che chở chúng ta khi chúng ta đã khẩn thiết xin Ngài hãy để mặc chúng ta một mình?

Rồi khẽ nhún vai, cô nói tiếp:

- Về những biến cố mới xảy ra, như tấn công khủng bố, bắn giết trong trường học, chiến tranh, v.v., tôi nghĩ rằng mọi sự đã bắt đầu với Madeleine Murray O’Hare, khi bà ấy than phiền là không muốn để đọc kinh trong trường học nữa. Và chúng ta đã đồng ý. Rồi một người khác lại có ý kiến là chúng ta không nên đọc Kinh Thánh nơi trường học, cũng chính quyển Kinh Thánh trong đó dạy chúng ta: « Chớ giết người, chớ trộm cắp, yêu chính bản thân mình, v.v. », và chúng ta cũng đã đồng ý. Sau đó bác sĩ Benjamin Spock lại nói là chúng ta không được đánh con mình khi chúng làm gì xấu, vì chúng ta có thể làm sai lệch nhân cách bé nhỏ của chúng và làm cho chúng không biết tự quý trọng bản thân mình nữa. (Con trai của chính vị bác sĩ ấy khốn thay đã tự tử). Họ nói rằng một chuyên viên chắc chắn phải biết mình nói gì, còn ông ấy nói với chúng ta điều gì thì cũng chẳng quan trọng, và chúng ta cũng đồng ý luôn.

Và cô kết luận:

- Bây giờ chúng ta lại tự hỏi là tại sao con chúng ta không có lương tâm, tại sao chúng không phân biệt được thiện ác, và tại sao chúng có thể nhẫn tâm giết chết một người lạ, một người thân hay chính mình. Có thể sau khi suy nghĩ chín chắn, chúng ta đi đến kết luận là điều này có liên quan đến nguyên tắc: chúng ta gieo nhân nào thì sẽ gặt quả nấy.

….…o0o……

Có thể bạn sẽ cho là câu trả lời trên có vẻ khó chấp nhận. Thế nhưng, câu trả lời thật là thâm thúy của thiếu nữ này đáng để chúng ta suy nghĩ. Trong cuộc sống, tôi và bạn cũng thường xuyên than trách Chúa khi gặp điều không như ý mình rằng: « Chúa đang ở đâu mà không thấy tôi đau khổ để cứu giúp?. Hoặc tại sao Chúa im lặng trước những bất công. v.v. ». Thậm chí chúng ta có thể đổ lỗi cho Chúa đã tạo ra thập giá cho chúng ta nữa. Nhưng Thiên Chúa không tạo ra thập giá. Ngài chỉ chấp nhận để mọi sự diễn ra chính vì tôn trọng quyền tự do mà Ngài đã ban cho con người. Tất cả những điều tệ hại đang diễn ra ngày nay đều xuất phát từ việc con người đã đẩy Chúa ra khỏi cuộc sống của mình, muốn tự mình giải quyết mọi sự. Nói cách khác, con người đang cố làm cho cuộc sống của mình vắng bóng Thiên Chúa. Nhưng khi vắng bóng Thiên Chúa, vắng mặt Đấng là Suối Nguồn Tình Yêu, thì cuộc sống sẽ chỉ còn là những đắng cay, hận thù và nước mắt...

Tôi và bạn, chúng ta hãy mời Thiên Chúa đến và ở lại trong cuộc sống của chúng ta. Rồi chúng ta sẽ mang Chúa đến mọi nơi mình đến, trao Chúa cho những người đang khao khát được yêu thương và thiếu vắng Chúa. Khi ngập tràn trong ánh sáng tình yêu của Chúa, ta sẽ vượt qua được những thách thức cam go nhất. Và cho dù có gặp thất bại trong cuộc sống, chúng ta vẫn giữ được sự bình an trong tâm hồn. Sự bình an đích thực từ Thiên Chúa chứ không phải thứ bình an giả tạo của thế gian. Khi đó, mọi người sẽ khám phá ra được niềm vui đích thực của chính đời mình và cuộc sống sẽ ngày càng tốt đẹp hơn, bạn nhé !

Hồng Hương

Thứ Ba, 4 tháng 1, 2011

Bác Hồ Dui Dẻ

Các bác xem coi, cả nước xưa nay bị lão già và cả lò này gạt "bác vẫn nguyên si"---> ở cái khổ nào đây nhỉ !!!!.





Hồ chí minh cùng vợ và con tại Bắc Kinh

Bữa cơm gia đình với gia đình bên vợ
Bà má vợ (đeo kiếng ngồi phía sau)

Hồ Chí Minh và người tình TANG TUYET MINH ( Lưu Thiếu Minh ?)
áo đen đứng sau lưng (1960)
Tăng Tuyết Minh (young Zengxueming)




Thứ Bảy, 1 tháng 1, 2011

Thứ Tư, 29 tháng 12, 2010

Khám Phá Mới

Khám Phá Mới





KHÁM PHÁ MỚI

Bác sĩ Chang Shu-wen

Bác sĩ Chang Shu-wen sinh trưởng Vùng Bắc Trung Hoa, theo học ngành Y Khoa tại Bắc Kinh và Nam Kinh. Hiện tại, ông đang hành nghề y sĩ tại Taipei, Đài Loan.

Tôi là Chang Shu-wen, 62 tuổi sinh trưởng tại vùng thôn quê đẹp đẽ Fong-cheng Hsien, thành phố Antung, lục địa Trung Hoa.

Xuất thân từ một gia đình theo Khổng giáo, chúng tôi thừa hưởng một truyền thống lâu đời trong dòng họ, đó là thờ Trời, tôn kính tổ tiên và sùng bái Đức Khổng Phu Tử. Cha mẹ tôi không phải là những Phật tử, mặc dù ông bà vẫn ăn chay những ngày mồng một và ngày rằm mỗi tháng theo âm lịch. Qua cách sống như thế, suốt thời thơ ấu, tôi không có một liên hệ nào với Phật giáo.

Vào khoảng thời gian chấm dứt chương trình Trung học, tôi và các bạn cùng lớp tổ chức một buổi du ngoạn thăm các thắng cảnh vùng đồi núi Chie-shan. Vùng này có rất nhiều chùa chiền của các tôn giáo Phật giáo và Lão giáo. Ở một ngôi chùa Phật giáo nọ, chúng tôi đã lưu lại trong bốn ngày. Trong thời gian bốn ngày, tôi đã có dịp nhìn xem tận mắt cách trang trí, các lễ phục, các tượng ảnh và tham dự các buổi cầu nguyện của những Phật tử. Tôi đã tham dự những buổi cầu nguyện này một cách nghiêm trang chăm chú. Qua những giây phút này, so sánh với những đơn sơ của đạo giáo, trong tâm hồn tôi bỗng nhiên bộc phát một nhận thức sâu xa về sự xa hoa hào nhoáng của thế gian và vật chất thế tục. Một nỗi buồn xuất hiện xâm chiếm tâm hồn tôi.

Tôi đến gặp, nói chuyện với một nhà sư và tìm hiểu lý do tại sao các tu sĩ lại từ bỏ mọi sự thế gian và ngay cả gia đình để sống trong các nhà chùa như vậy. Tôi được trả lời rằng những người này đã tìm hiểu về Phật Pháp và sau đó bị lôi cuốn sống đời sống tu hành để thực tập các nhân đức với hy vọng sẽ đạt được một đời sống tâm linh giải thoát khỏi sự áp chế của nhục dục.

Trong thực tế có hai bậc tu hành:

* Bậc thứ nhất có tầm học cao hiểu rộng, giảng đạo cho các thiện nam tín nữ.

* Bậc thứ hai thấp hơn, dù sống trong nhà chùa nhưng vẫn còn liên hệ đến thế tục về phương diện vật chất, những người này lưu lại trong chùa vì hoàn cảnh nghèo khó, thiếu ăn thiếu mặc ngoài đời.

Lại cũng có những người tội phạm, bị chính quyền truy nã, tìm đến cửa Phật để náu thân. Vì trong thời gian đó, pháp luật không được áp dụng cho những người đã xuống tóc qui y trong các nhà chùa. Dù tội lỗi của họ có nặng nề đến đâu đi nữa, pháp luật coi như họ đã tách ra khỏi thế giới con người và coi như đã chết.

Hầu hết các nhà tu hành thuộc bậc thứ hai vì họ đã chán cảnh đời thế gian, đã thất bại trên chính trường, đã thua lỗ trong việc làm ăn buôn bán hoặc tình duyên bị gãy đổ. Với sự khổ hạnh trong đời tu hành, họ nhận diện được sự dối trá, phù du của thế gian và quyết định nương nhờ cửa từ bi tìm bình an cho tâm hồn.

Các nhà tu hành ở bậc thứ hai có thể tiến lên bậc thứ nhất nếu qua thời gian, họ tìm hiểu, học hỏi, tiến triển trong việc sống đời sống nhân đức theo Phật pháp. Theo Phật pháp, tất cả mọi người đều bình đẳng. Bất cứ ai cũng có thể thành Phật, nếu người ấy sống nhân đức: Vị Giáo chủ thứ Sáu trong truyền thống Phật giáo Trung Hoa không biết đọc biết viết nên ông không hiểu gì hết những lời giảng huấn của Vị tiền nhiệm Thứ Năm. Nhưng khi được linh ứng, ông có thể quảng diễn tất cả mọi điều giống như Vị Giáo chủ trước đã giải thích và giảng dạy. Chính vì thế ông được chọn làm vị thừa kế. Đó là những kiến thức đầu tiên của tôi về Phật Giáo.

Sau khi tốt nghiệp Trung học, tôi được gửi đi Bắc Kinh để học Đại Học. Những vấn đề liên hệ đến ý nghĩa, cứu cánh của đời sống con người luôn luôn xâm chiếm tôi. Mỗi lần như thế, tôi lại nghĩ đến Phật pháp: Sự bình đẳng trong sự sống của tất cả các loại sinh vật theo Phật pháp khiến tôi suy nghĩ nhiều. Tôi khâm phục và tán thưởng những châm ngôn, những kinh kệ và các bài luận giảng về vấn đề này.

Bắc kinh là nơi qui tụ các vị chân tu và các tu sĩ học giả. Tôi có dịp liên lạc với nhà sư Tai-hsu, một người được toàn quốc biết đến qua việc chú giải bộ sách "Bốn mươi hai chương". Tôi đã được nghe ông giảng những bài giảng rất có ý nghĩa. Có những bài giảng với những câu tôi vẫn còn nhớ rõ:

... "Sự liên hệ giữa người đàn ông với vợ mình và gia đình còn nặng nề hơn nhà tù đối với ngừơi tù. Như hạn tù không bao giờ chấm dứt, người đàn ông sẽ không bao giờ được phép từ bỏ gia đình...".

Tôi cũng có lần được nghe nhà sư Chang-hsing giảng giải về sách của Đức Phật qua cái nhìn Triết học. Sau đó mặc dù tôi kết luận rằng mỗi người đều phải có một tôn giáo, nhưng tôi vẫn chưa tìm được một tôn giáo cho chính mình.

Một ngày nọ, tôi có dịp đến thăm một Thánh đường đạo Công giáo, tôi hỏi mượn một số sách về đọc, nhưng người giữ thư viện cho biết rằng sách chỉ dành cho những người nào muốn tìm hiểu về đạo Công giáo mượn thôi. Từ hôm đó, tôi có ý định tìm hiểu về đạo Công giáo.

Tôi theo học tại trường Quân Y. Viện trưởng của trường là một người theo đạo Thệ phản (Protestant). Vào ngày thứ bảy chúng tôi không có lớp. Ông Viện trưởng thường mời một Mục sư đến giảng đạo và hướng dẫn các sinh viên học hỏi về Kinh Thánh. Tôi chẳng hiểu nhiều về những điều giảng dạy đó, chính vì thế, tôi thờ ơ với Kitô giáo.

Sau thời gian theo học tại Bắc Kinh, tôi được gửi đi Nam Kinh. Ở Nam Kinh, tôi cũng thường tham dự những buổi thuyết trình về Phật pháp do một giảng viên của Đại học Chin-Linh diễn giảng: Giáo sư Mei-Kwan-hsi. Ông dùng những danh từ khoa học khi nói chuyện khiến những thính giả như tôi hiểu dễ dàng hơn.

Thời gian sau đó, tôi lại thường đến một nhà thờ Thệ phản với mục đích tìm kiếm sự an bình cho tâm hồn vì nhiều lúc tôi cảm thấy băn khoăn trong vấn đề tôn giáo. Nhưng không nơi nào tôi tìm được sự an bình cả.

Cuối cùng tôi trở lại với Phật giáo với ý nghĩ rằng đây chính là tôn giáo tôi đang tìm kiếm và sự băn khoăn trong tâm hồn tôi sẽ được giải thoát. Trong giai đoạn này tôi tìm hiểu về Phật pháp rất nhiều.

Bên cạnh những sách vở Y khoa phải học và đọc, tôi coi như mình có bổn phận phải đọc thêm sách Phật rồi dần dà tôi có thói quen đọc những sách này ngay cả những khi giải trí. Tôi không liên lạc với gia đình nhiều, vì tôi thiết nghĩ theo sách nhà Phật, đối với người đàn ông: gia đình, vợ con là những phiền toái bên ngoài, giống như tiền bạc, danh vọng. Tất cả là những quyến rũ khiến cho người ta không tập trung được để đạt tới giải thoát. Những điều này phải được từ bỏ.

Chiến tranh Hoa-Nhật bùng nổ, chính cuộc chiến này và lòng yêu nước trong tôi đã khơi dậy một vấn đề khiến tôi phải suy nghĩ về niềm tin của mình vào Phật giáo. Vì khi kẻ thù xâm lăng quốc gia mình, nếu muốn bảo vệ quốc gia, một người ái quốc phải hy sinh mọi sự để chống lại quân thù. Giáo thuyết "cấm sát sinh" chính là tự trói tay nộp mình cho kẻ xâm lăng. Và giáo thuyết cho rằng mọi sự của trần gian đều là giả trá phù vân, vậy tinh thần ái quốc và lòng yêu nước cũng là giả trá phù vân sao? Có lẽ chính giáo thuyết này đã đưa các quốc gia vùng Á Châu (hầu hết theo Phật giáo) trở thành thuộc địa của Tây Phương hay sống dưới một chiêu bài độc lập giả hiệu. Trung Hoa phải cẩn thận trong bài học này.

Những tư tưởng như thế khiến tôi nhận thấy sự khiếm khuyết của Phật giáo. Có thể gom tóm những khiếm khuyết này như sau:

1. Về phương diện Khoa học:

Tôi học và hoạt động trong lãnh vực Y Khoa. Với khoa học, mọi sự đều phải được chứng minh. Những câu chuyện, sự kiện kể trong sách Phật thiếu chứng tích lịch sử, chỉ là những chuyện thần thoại như thuyết luân hồi chẳng hạn. Những giáo thuyết này rất quan trọng nhưng không thể minh chứng theo khoa học, lịch sử hay luận lý.

2. Giáo thuyết xa vời:

Được trở thành Phật là cứu cánh của hầu như tất cả các Phật tử, nhưng để đạt được cứu cánh này, người ta phải trải qua ba hình thức hay trạng thái: trạng thái khổ hạnh, trạng thái hữu thực và trạng thái hư không. Người ta phải thoát ra ngoài sự nhơ nhớp và tội lỗi của thế tục. Nhưng làm sao một người có thể thoát ra ngoài thế tục được nếu họ bắt buộc phải sống trong thế tục đó?

3. Giáo lý trừu tượng và quá huyền bí:

Sách về Phật pháp thì vô số kể. Xét về phương diện văn học, những sách này rất có giá trị dù khi đã được dịch ra ngoại ngữ, nhưng tất cả đều quá khó hiểu, khiến người đọc không thể tiến xa hơn được. Giáo lý có thể rất cao vời, nhưng cần phải được diễn đạt trong tầm hiểu biết của mọi người. Trong Phật giáo, nghi lễ theo phái Chuan chẳng hạn, được mọi người ưa thích. Qua nghi lễ này, người tham dự hy vọng sẽ được siêu thoát, được linh sáng khi suy niệm. Nhưng phương pháp suy niệm lại không hợp lý khiến ngừơi ta cảm thấy trống rỗng khi kết thúc và sự siêu thoát có vẻ quá cao vời bất khả đạt.

4. Sự mâu thuẫn và đối nghịch:

Trong Phật pháp nhấn mạnh về "cấm sát sinh".

Một ngày nọ, tôi đến thăm nhà sư nổi tiếng Tai-hsu và hỏi ông: "Chúng tôi là Bác sĩ Y Khoa, chuyên tìm tòi, sát hại tiêu diệt các loại vi khuẩn độc tố. Phật pháp có cho phép chúng tôi làm việc này không?". Sau một lúc im lặng, nhà sư Tai-hsu trả lời: "Tiêu diệt các loại vi khuẩn độc tố có hại cho con người không thuộc về giới luật "cấm sát sinh". Tôi im lặng, nhưng phải giải thích thế nào về nguyên lý bình đẳng của sinh vật? Làm sao có thể phân biệt được lúc nào là sát sinh và lúc nào là không sát sinh?

Một thí dụ khác: Lamaism là một phái của Phật giáo tại Trung Hoa. Mỗi năm, phái Lamas tổ chức một buổi lễ Trừ-Tà trong lâu đài Yung-Ho, Bắc Kinh, để xua đuổi tà thần và chúc lành cho dân chúng. Một trong những vật dụng xử dụng để đánh đuổi tà thần này là một cây roi dài kết bằng da người. Họ dạy cấm sát sinh trong khi lại xử dụng một cây roi làm bằng da người là làm sao?

5. Sự thờ ơ lãnh đạm:

Từ bi là một nhân đức quan trọng của Phật pháp. Nhưng sự từ bi này theo tôi có vẻ rất vô tình: Được thực hiện về hình thức nhiều hơn; làm việc bố thí đồng thời khinh thường kẻ nhận bố thí.

Những điều này và còn nhiều điều khác nữa tôi không nhớ hết, đều là những ý kiến cá nhân, có thể không đúng với ý kiến của những người khác. Nhưng chính những điều này đã là những động lực khiến tôi bất đồng và rời bỏ Phật giáo. Từ đó, không bao giờ tôi đến viếng một ngôi chùa nào và thăm hỏi một nhà sư nào nữa.

Tuy vậy, những tư tưởng về sự phù du chóng qua của của cải thế tục và cứu cánh của đời sống con người vẫn là hai vấn đề làm cho tôi băn khoăn, đặc biệt vào khoảng thời gian chúng tôi đến Đài Loan.

Công việc tại nhà thương nơi tôi được gửi tới không nhiều lắm. Tôi có thì giờ nhiều hơn để suy tư về quá khứ, hiện tại và tương lai. Tôi cảm thấy đời sống mình sao bấp bênh và trống rỗng quá, có lẽ tôi phải có một tôn giáo làm nơi nương tựa cho tâm hồn.

Một hôm nọ, đi dạo trên đường Chung-chen ở Taipei, ngang qua ngôi chùa Shan-tao nhưng không dừng lại vì tôi không còn cảm thấy chùa chiền là nơi đáp ứng được những khắc khoải của tâm hồn. Đến cuối đường, nơi một nhà thờ Công giáo tọa lạc, tôi đã định vào, nhưng cuối cùng tôi nghĩ có lẽ nên gởi thư đến trước để hỏi thăm vấn đề tìm hiểu về Giáo lý Đạo Công giáo.

Tôi đã liên lạc được với Cha Fang, Linh mục Chánh sở của nhà thờ, ngài giới thiệu tôi với Cha Kung để Cha hướng dẫn tôi về Giáo lý.

Tôi rất vui khi được làm quen với Cha Kung, ngài hướng dẫn tôi tìm hiểu về Giáo lý Đạo Công giáo. Sau một thời gian, tôi quyết định xin Rửa tội, vì tôi khám phá ra đây chính là giáo hội tôi đã bỏ bao thời giờ để kiếm tìm.

So sánh với tôn giáo tôi đã biết trước đó, tôi nhận thấy như sau:

1. Tất cả những điều Đạo Công giáo giảng dạy đều có nền tảng Triết học, lịch sử hay Thần học.

2. Đạo Công giáo có những tín điều xác thực, không mâu thuẫn, xây dựng trên nền tảng vững chắc. Có những mầu nhiệm với trí óc con ngừơi không hiểu được, nhưng Giáo hội trình bày rõ ràng và thành thật rằng những mầu nhiệm này vượt qua trí tưởng của con người. Giáo hội cũng cho biết lý do tại sao họ chấp nhận những mầu nhiệm ấy và họ không bao giờ bắt buộc ai phải tin vì mỗi người đều có tự do riêng.

3. Có những sách Giáo lý, thủ bản về đạo thích hợp với trình độ của mọi giới. Giải thích về chân lý để mọi người đặt niềm tin, về các giới răn để mọi người tuân giữ, về các Bí tích để mọi người lãnh nhận và cầu nguyện. Tất cả mọi sự rất rõ ràng, minh bạch, không giống như Phật giáo, người ta chẳng biết bắt đầu từ đâu vì quá nhiều sách vở và những nghi lễ phức tạp.

4. Các Linh mục Công giáo được Giáo hội trao cho năng quyền giảng dạy từ Chúa Kitô: "Các con hãy đi rao giảng Tin Mừng cho các dân tộc.". Ai trao quyền cho các nhà sư giảng dạy? Theo những qui tắc nào? Tiêu chuẩn nào là chính thức? Tôi chỉ thấy có những nhà sư này giới thiệu, ca tụng nhà sư kia hoặc tự giới thiệu mình mà không có một bản quyền nào từ trên. Trong Công giáo, tôi đã tìm thấy và đặt được niềm tin mình trên nền tảng của Đức tin đạo giáo.

5. Đạo Công giáo rao giảng về tình yêu vô biên của Thiên Chúa đối với con người. Một tình yêu không những không hạ thấp phẩm giá con người, trái lại còn nâng con người lên trong nhân phẩm, thêm sức mạnh linh thiêng và giúp con người tự tin trong việc trao phó mọi việc nơi Thiên Chúa. Ở bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào luôn luôn họ được Thiên Chúa bảo vệ và gìn giữ.

6. Đạo Công giáo mời gọi mọi người sống Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến. Những dân tộc sống ở Tây Phương qua nhiều thế kỷ đã được giáo dục theo những nhân đức này. Họ trở thành những dân tộc hiếu động, can đảm và lạc quan không phải chỉ trong lãnh vực tôn giáo mà cả ngay trong đời sống hằng ngày. Họ rất nhiệt thành với sự hăng hái mạnh mẽ trong các lãnh vực khoa học, đào sâu kiến thức con người, xây dựng xã hội, giúp đỡ những kẻ nghèo khó bần cùng và cải tiến đời sống con người. Tất cả có lẽ chỉ vì họ đã được giáo dục trong ba nhân đức thần thông này.

7. Đối diện với những đau khổ của con người và tội lỗi của thế gian. Đạo Công giáo thực sự lăn xả vào vấn đề, cố gắng tìm hiểu và biến đổi tất cả nên tốt hơn. Giống như một ngôi nhà đang bốc cháy, Phật giáo tìm đường chạy ra ngoài trong khi Công giáo tìm cách vào nhà để dập tắt ngọn lửa. Hoặc cũng giống như một căn nhà sắp đổ xuống, Phật giáo muốn phá đi hoàn toàn, nhưng Công giáo tìm cách chống đỡ và xây dựng lại để mọi người có thể ở trong đó.

8. Đức Giáo Hoàng qua nhiều thời đại luôn luôn khuyến khích mọi tín hữu yêu mến quốc gia dân tộc mình, xây dựng đất nước và dự phần vào công việc xã hội, để tìm hiểu, cải tiến và thánh hoá. Phật giáo lo làm sao để thoát ra ngoài sự phức tạp này: đi thật xa để không còn vướng víu vào nữa.

Tóm lại, cám ơn Chúa, tôi đã trở thành người Công giáo. Vì tôi đã có dịp tìm hiểu về cả hai tôn giáo và so sánh. Công giáo đã cho tôi thấy một con đường để cải tổ xã hội, quốc gia và chính linh hồn mình. Tôi đã được Rửa tội hơn mười hai năm rồi. Tôi thú nhận là trong suốt khoảng thời gian này tôi đã chưa đạt được những tiến triển về đường nhân đức, nhưng tôi hạnh phúc vì mình là người Công giáo. Cả gia đình tôi cũng đã Rửa tội và bất cứ khi nào có thể, tôi đều loan truyền đạo Công giáo đến bạn bè và những đồng nghiệp của tôi.

Bac sĩ Chang Shu Wen