Thứ Tư, 15 tháng 12, 2010

Ăn trái cây như thế nào mới đúng?


Dr Stephen Mak

Bác sĩ Stephen Mak trị bệnh ung thư thời kỳ chót bằng những cách điều trị "không chính thống" nhưng rất nhiều bệnh nhân đã hồi phục. Trước đây, ông dùng năng lực mặt trời để chữa bệnh. Ông tin rằng cơ thể có khả năng tự hồi phục. Xin xem lời ông bên dưới
Cám ơn đã gửi bài về trái cây và nước trái cây. Ðây là một cách điều trị ung thư. Gần đây, tỷ lệ thành công của tôi trong việc điều trị ung thư là khoảng 80% . Bệnh nhân ung thư lẽ ra không phải chết. Cách điều trị ung thư đã được tìm ra, chỉ là chúng ta có tin hay không. Tôi rất tiếc về việc hàng trăm bệnh nhân ung thư đã chết theo cách chữa trị truyền thống.
Xin cám ơn và c ầu Thượng Ðế gia hộ.

EATING FRUIT...
We all think eating fruits means just buying fruits, cutting it and just popping it into our mouths. It's not as easy as you think. It's important to know how and when to eat.
What is the correct way of eating fruits?

Tất cả chúng ta cho rằng ăn trái cây chỉ có nghĩa là mua trái cây, cắt ra từng lát và bỏ vào miệng, nhưng không dễ như vậy. Ðiều quan trọng là phải biết ăn ra sao và khi nào.
Ăn trái cây như thế nào mới đúng?

IT MEANS NOT EATING FRUITS AFTER YOUR MEALS! * FRUITS SHOULD BE EATEN ON AN EMPTY STOMACH.
If you eat fruit like that, it will play a major role to detoxify your system, supplying you with a great deal of energy for weight loss and other life activities.

Không ăn trái cây sau bữa ăn!
Nên ăn trái cây khi bụng trống. Nếu ăn theo cách này, trái cây sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tẩy uế cơ thể, cho quý vị năng lực để chữa béo phì và những hoạt động khác.
FRUIT IS THE MOST IMPORTANT FOOD. Let's say you eat two slices of bread and then a slice of fruit. The slice of fruit is ready to go straight through the stomach into the intestines, but it is prevented from doing so.
Trái cây là thức ăn quan trọng nhất.
Thí dụ quý vị ăn hai lát bánh mì, rồi một lát trái cây. Lát trái cây đã sẵn sàng đi thẳng qua bao tử, rồi vào ruột, nhưng bị ngăn cản.

In the meantime the whole meal rots and ferments and turns to acid. The minute the fruit comes into contact with the food in the stomach and digestive juices, the entire mass of food begins to spoil....

Trong khi đó, toàn thể bữa ăn bị thối rữa, lên men, và biến thành axít. Khi trái cây gặp thức ăn trong bao tử và chất axít tiêu hóa, tất cả thức ăn bắt đầu thối rữa.

So please eat your fruits on an empty stomach or before your meals! You have heard people complaining — every time I eat watermelon I burp, when I eat durian my stomach bloats up, when I eat a banana I feel like running to the toilet, etc — actually all this will not arise if you eat the fruit on an empty stomach. The fruit mixes with the putrefying other food and produces gas and hence you will bloat!

Vậy hãy ăn trái cây khi bụng trống, hoặc trước bữa ăn! Quý vị đã nghe nhiều người than rằng - mỗi lần ăn dưa hấu, tôi bị ợ ; khi ăn sầu riêng, tôi bị sình bụng; khi ăn chuối, tôi cảm thấy muốn đi nhà vệ sinh v.v... Thật ra tất cả những điều này sẽ không xảy ra nếu quý vị ăn trái cây khi bụng trống. Trái cây hòa với những thức ăn thối rữa, sẽ tạo nên hơi gas, và làm quý vị bị sình bụng.

Greying hair, balding, nervous outburst and dark circles under the eyesall these will NOT happen if you take fruits on an empty stomach.

Những việc như tóc bạc, hói đầu, tư tưởng bực bội, và bên dưới mắt bị quầng đen sẽ không xảy ra nếu quý vị ăn trái cây khi bụng trống.

There is no such thing as some fruits, like orange and lemon are acidic, because all fruits become alkaline in our body, according to Dr. Herbert Shelton who did research on this matter. If you have mastered the correct way of eating fruits, you have the Secret of beauty, longevity, health, energy, happiness and normal weight.

Không có chuyện vài thứ trái cây như cam và chanh có nhiều chất axít, bởi vì tất cả trái cây trở thành chất kiềm (alkaline) trong cơ thể, theo bác sĩ Herbert Shelton, nguời đã nghiên cứu vấn đề này. Nếu quý vị nắm vững việc ăn trái cây đúng cách, quý vị sẽ có được bí mật của sắc đẹp, trường thọ, sức khỏe, năng lực, hạnh phúc và không béo phì.

When you need to drink fruit juice - drink only fresh fruit juice, NOT from the cans. Don't even drink juice that has been heated up. Don't eat cooked fruits because you don't get the nutrients at all. You only get to taste. Cooking destroys all the vitamins.

Khi cần uống nước trái cây - hãy uống nước trái cây tươi, không uống từ đồ hộp. Không uống nước trái cây đã nấu ấm. Không ăn trái cây đã nấu chín, bởi vì quý vị sẽ không có những chất dinh dưỡng, mà chỉ thưởng thức hương vị của trái cây. Nấu chín làm mất tất cả sinh tố.

But eating a whole fruit is better than drinking the juice. If you should drink the juice, drink it mouthful by mouthful slowly, because you must let it mix with your saliva before swallowing it. You can go on a 3-day fruit fast to cleanse your body. Just eat fruits and drink fruit juice throughout the 3 days and you will be surprised when your friends tell you how radiant you look!

Nhưng ăn trái cây vẫn tốt hơn là uống nước trái cây. Nếu quý vị phải uống nước trái cây, hãy uống từng ngụm, từ từ, bởi vì cần để nước trái cây hòa tan với nước bọt trước khi nuốt xuống. (Phép dưỡng sinh Osawa cũng khuyên phải nhai cơm gạo lức 100 lần trước khi nuốt, để gạo hòa với nước bọt). Quý vị có thể chỉ ăn trái cây trong 3 ngày để thanh lọc cơ thể. Chỉ ăn trái cây và uống nước trái cây trong suốt 3 ngày, và quý vị sẽ ngạc nhiên khi bạn bè cho biết quý vị nhìn thật tươi sáng!

KIWI: Tiny but mighty. This is a good source of potassium, magnesium, vitamin E & fiber. Its vitamin C content is twice that of an orange.
KIWI: Nhỏ mà rất mạnh. Có đủ các sinh tố potassium, magnesium, vitamin E & chất sợi. Lượng sinh tố C gấp 2 lần trái cam.

APPLE: An apple a day keeps the doctor away? Although an apple has a low vitamin C content, it has antioxidants & flavonoids which enhances the activity of vitamin C thereby helping to lower the risks of colon cancer, heart attack & stroke.

nã Táo: Ăn một trái táo mỗi ngày, không cần đến bác sĩ? Dù táo có lượng sinh tố C thấp, nhưng có tính chống oxít hóa & flavonoids để giúp sự hoạt động của sinh tố C, do đó giúp hạ tỷ lệ ung thư ruột già, nhồi máu cơ tim và đứt mạch máu.

STRAWBERRY: Protective Fruit. Strawberries have the highest total antioxidant power among major fruits & protect the body from cancer-causing, blood vessel-clogging free radicals.

Dâu tây: (không phải là con dâu người Tây, mà là trái dâu tây) là loại trái cây bảo vệ. Dâu tây có tánh chống axít hóa cao nhất trong số các loại trái cây chính, bảo vệ cơ thể tránh ung thư, chống chất free radicals (gốc tự do) làm nghẽn mạch máu.

ORANGE : Sweetest medicine. Taking 2-4 oranges a day may help keep colds away, lower cholesterol, prevent & dissolve kidney stones as well as lessens the risk of colon cancer.

Cam: Thuốc tiên. Ăn từ 2 đến 4 trái cam mỗi ngày giúp khỏi bị cảm cúm, hạ thấp cholesterol (mỡ trong máu), tránh và làm tan sạn thận cũng như là hạ thấp tỷ lệ ung thư ruột già.

WATERMELON: Coolest thirst quencher. Composed of 92% water, it is also packed with a giant dose of glutathione, which helps boost our immune system. They are also a key source of lycopene — the cancer fighting oxidant. Other nutrients found in watermelon are vitamin C & Potassium.

Dưa hấu: Hạ nhiệt làm đỡ khát. Chứa 92% nước, và nhiều chất glutathione giúp hệ miễn nhiễm. Dưa hấu cũng có nhiều chất lycopene chống ung thư. Những chất dinh dưỡng khác trong dưa hấu là sinh tố C & Potassium (Kali).

GUAVA & PAPAYA: Top awards for vitamin C. They are the clear winners for their high vitamin C content.. Guava is also rich in fiber, which helps prevent constipation. Papaya is rich in carotene; this is good for your eyes.

Ổi & Ðu đủ: hạng nhất về sinh tố C, chứa rất nhiều vitamin C. Ổi có nhiều chất sợi, giúp trị bón. Ðu đủ có nhiều chất carotene tốt cho mắt.

Drinking Cold water after a meal = Cancer! Can u believe this?? For those who like to drink cold water, this article is applicable to you. It is nice to have a cup of cold drink after a meal. However, the cold water will solidify the oily stuff that you have just consumed. It will slow down the digestion. Once this 'sludge' reacts with the acid, it will break down and be absorbed by the intestine faster than the solid food. It will line the intestine. Very soon, this will turn into fats and lead to cancer. It is best to drink hot soup or warm water after a meal.

Uống nước lạnh sau bữa ăn có thể bị ung thư? Chuyện khó tin?? Cho những ai thích uống nước đá lạnh, bài này dành cho quý vị. Uống nước đá lạnh sau bữa ăn thật khoái khẩu. Tuy nhiên, nước lạnh sẽ làm đông đặc những chất dầu mỡ mà quý vị vừa ăn xong. Sẽ làm chậm tiêu hóa. Khi chất “bùn quánh” này phản ứng với axít, nó sẽ phân nhỏ và được hấp thụ vào ruột nhanh hơn là thức ăn đặc. Nó sẽ đóng quanh ruột. Chẳng bao lâu, nó sẽ biến thành chất béo và đưa đến ung thư. Tốt nhất là ăn súp nóng hay uống nước ấm sau bữa ăn
(Ðông y luôn khuyên nên uống nước ấm.)

A serious note about heart attacks HEART ATTACK PROCEDURE': (THIS IS NOT A JOKE!) Women should know that not every heart attack symptom is going to be the left arm hurting. Be aware of intense pain in the jaw line. You may never have the first chest pain during the course of a heart attack. Nausea and intense sweating are also common symptoms. Sixty percent of people who have a heart attack while they are asleep do not wake up. Pain in the jaw can wake you from a sound sleep. Let's be careful and be aware. The more we know the better chance we could survive.

Một điều nghiêm trọng về nhồi máu cơ tim: “thủ tục” nhồi máu cơ tim (Không phải chuyện đùa) Những quý vị nữ nên biết rằng, không phải tất cả những triệu chứng nhồi máu cơ tim đều bắt đầu từ việc tay trái bị đau. Hãy chú ý khi bị đau hàm dữ dội. Có thể quý vị sẽ không bao giờ bị đau ngực khi bị nhồi máu cơ tim. Buồn nôn và toát mồ hôi dữ dội cũng là những triệu chứng thường xảy ra. 60% những người bị nhồi máu cơ tim trong khi ngủ sẽ không thức giấc. Ðau hàm có thể khiến quý vị tỉnh dậy khi đang ngủ say. Hãy chú ý và để ý. Càng biết nhiều, chúng ta càng dễ sống sót.

A cardiologist says if everyone who gets this mail sends it t o 10 people, you can be sure that we'll save at least one life.

Một bác sĩ chuyên khoa tim cho biết, nếu mọi người nhận được email này gửi tiếp cho 10 người khác, thì ít nhất một mạng người sẽ được cứu sống.

Thứ Bảy, 11 tháng 12, 2010

ĐẢO LỘN THIÊN CƠ


ĐẢO LỘN THIÊN CƠ

1- Tôi được tham dự buổi sinh hoạt của anh em Tin lành. Mục sư giới thiệu diễn giả là một người từ ViệtNam đến được it tháng. Sau phần thuyêt giảng, tôi được mục sư giới thiệu với diễn giả. Biêt tôi là người Công giáo, diễn giả tấn công tôi bằng một câu:
“Tại sao người Công giáo hay chạy đến với Đưc Mẹ? Như anh biêt, tiệc cưới ở Cana, Chúa đã làm nước hóa rượu, chứ Đưc Mẹ có làm được gì đâu.”

Tôi nói: “Thật sự tôi đến đây không phải để kêu gọi người Tin lành trở về Công giáo, và cũng không phải vì niềm tin lung lay để đi tìm niềm tin mới. Tôi đến đây trong tinh thần của người có cùng một Chúa, một Cha, nghiã là trong tình anh em. Tôi tin Thiên Chúa yêu thương tât cả chúng ta. Anh đã đề cập đến tiệc cưới Cana, tôi cũng qua câu chuyện đó, trả lời anh. Khi Đưc Mẹ nói với Chúa Giêsu họ đã hêt rượu, Chúa trả lời: “Điều đó can hệ gì đến mẹ và con? Giờ con chưa tới”. Giờ con chưa tới, có nghiã giờ làm phep lạ của Chúa không phải vào giây phut đó; thế mà, vì lời nói của Đưc Mẹ, Thiên Chúa đổi chương trình, và Người làm nươc thành rượu. Qua 'Tiệc cưới Cana' anh không nhìn thấy sưc mạnh lời xin của Đưc Mẹ Maria sao? Cac anh vẫn nhờ người này, người kia cầu thay; chúng tôi nhờ Đưc Mẹ, không phải là hành động khôn ngoan sao?”

Diễn giả im lặng. Trươc khi chia tay, tôi có cho diễn giả i-meo của tôi nhưng anh không viêt cho tôi.

2- Tôi có một người anh đã 80, cái tuổi mà hầu hêt các Kitô hữu chẳng còn quan tâm đến chuyện thế gian. Từ khi về hưu, anh dành thì giờ giúp việc nhà thờ, và siêng năng cầu nguyện. Khi tôi mang câu chuyện “Tiệc cưới Cana” và lời đối đáp giữa tôi và diễn giả Tin lành nói với anh, thì anh nói ngay.

(lời mà anh nói dưới đây, anh quả quyêt là của Chúa Giêsu cho anh biêt):

“Rượu ở tiệc cưới Cana, chỉ là một nhu cầu tầm thường, nhưng Mẹ Ta đã quan tâm đến. Linh hồn của cac con qúy giá vô cùng, cả vũ trụ không sánh bằng, vì linh hồn cac con là hình ảnh của Ta, thì Mẹ Ta còn quan tâm đến mưc độ nào? Nhât là những ai thường xin Người cầu bầu cho phần rỗi của linh hồn của họ. Ta cho con biêt, Mẹ Ta được Thiên Chúa Cha sủng ái, và ban ơn lớn lao, là lời xin của Mẹ Ta, có thể đảo lộn thiên cơ.”

Tôi hỏi: “Vì sao Mẹ Maria, một thụ tạo lại được đặc ân cao trọng như thế?”

Anh nói ngay không do dự: “Chúa Giêsu, Thiên Chúa Con, đã xuống trần mang hình hài con người, Ngài cũng phải chịu tât cả những gì con người mang thân xac phải chịu: đói, khat, đau khổ,...nhưng Ngài đã vâng phục hoàn toàn Ý Chúa Cha, vì thế Thiên Chúa Cha đã ban cho Ngài tât cả uy quyền trên trời, dưới đât.

Mẹ Maria là người thứ hai cũng đã hoàn toàn vâng phục Ý Chúa Cha, và vì thế Đưc Mẹ sau khi qua đời, đã về trời và được ban đặc ân là Nữ Vương trên trời, dưới đât, và lời xin của Đưc Mẹ, có thần thế hơn tât cả lời xin của cac thiên thần, cac thánh và cả loài người.”

Thật diễm phuc cho người Công giáo, vì có người Mẹ thần thế cầu bầu cho khi sống và nhât là trong giờ lâm chung. Tôi thật sự thương anh em Tin lành vì họ mồ côi Mẹ; hay nói đúng hơn, là họ có người Mẹ thần thế mà họ không biêt, nên thờ ơ và đôi khi, một it anh em Tin lành làm đau lòng Người Mẹ thần thế của họ. Khi làm đau lòng Đưc Mẹ, là họ cũng làm đau lòng Thiên Chúa, vì không ai yêu mến Thiên Chúa bằng Mẹ Maria, và không ai đáng được Thiên Chúa yêu mến như Mẹ Maria.

NguyễnHyVọng

------------

Kính anh Hy vọng

Sau khi đọc bài “Đảo lộn thiên cơ” của anh, tôi cảm thấy có sự thúc đẩy tôi viết điện thư này để chia sẻ, vì tôi cũng đã gặp một câu chuyện tương tự như câu chuyện của anh. Cách nay 27 năm tôi làm technician trong một hãng điện tử ở vùng Bay Area. Trong hãng có một người Việt khác cũng làm technician. Anh này là một tín đồ Tin Lành. Hai đứa chúng tôi rất thân nhau vì trong hãng chỉ có 2 người Việt. Thế rồi, một hôm anh bạn Tin Lành nói với tôi: “Mấy anh Công Giáo thật là hỗn xược khi gọi bà Maria là Mẹ Đức Chúa Trời. Tôn xưng một người đàn bà trần thế là Mẹ Đức Chúa Trời thì thật là không điều gì hỗn xược hơn”. Tôi hơi ngạc nhiên vì bị tấn công bất ngờ. Nhưng tôi trầm tĩnh đáp: “Người Công Giáo gọi Đức Maria là Mẹ Đức Chúa Trời bởi vì chính Kinh Thánh gọi Đức Maria là Mẹ Đức Chúa Trời”. Ông bạn Tin Lành đáp mau lẹ: “Làm gì có chuyện đó. Kinh Thánh chẳng làm gì có chỗ nào gọi bà Maria Mẹ Đức Chúa Trời”. Tôi đáp: “Tôi quả quyết là có”. Anh bạn Tin Lành nói cương quyết hơn: “Tôi cá với anh đấy.Tôi cá rằng chẳng ai trưng được Kinh Thánh có chỗ nào gọi bà Maria là Mẹ Thiên Chúa”. Tôi liền móc trong túi quần ra một cuốn Tân Ước bằng tiếng Anh và mở sách Lu-ca đọc Chương 1 các câu 26-45 là đoạn nói về cuộc viếng thăm bà Elizabeth của Đức Maria. Đọc xong, tôi nhắc lại bằng tiếng Việt rằng : “Anh thấy không, một bà dì già 70 tuổi được đứa cháu gái 16 tuổi tới thăm mà đã trịnh trọng nói với đứa cháu gái bé nhỏ của mình rằng “Bởi đâu tôi được diễm phúc là Mẹ của Thiên Chúa của tôi tới viếng thăm tôi” (Lu-ca 1: 43). Và bà Elizabeth đã tuyên xưng Maria là Mẹ Thiên Chúa sau khi được “đầy Chúa Thánh Thần” (Lu-ca 1:41). Nghĩa là chính Thiên Chúa (Ngôi Ba) đã tuyên xưng Maria là Mẹ Thiên Chúa (Ngôi Hai) đấy, đâu có phải loài người hỗn xược bịa đặt ra để gọi Maria là Mẹ Thiên Chúa”. Lúc đó, tôi thấy anh bạn Tin Lành của tôi lúng túng, mặt đỏ bừng bừng, ấp úng nói không ra lời, đưa tay cầm lấy cuốn Tân Ước để đọc. Thấy anh bạn ngượng ngùng và lúng túng, tôi chấm dứt câu chuyện. Nhưng kể từ lúc đó, hai đứa chúng tôi không còn là bạn thân nhau nữa. Anh bạn Tin Lành xa lánh tôi và lạnh nhạt ra mặt với tôi. Ít lâu sau tôi nghỉ việc và cho tới nay chưa hề gặp lại anh. Gần đây, sau 27 năm trời, nhà tôi có dịp gặp lại thì được biết hiện nay anh là một Mục Sư.

Trương Tiến Đạt

Thứ Sáu, 26 tháng 11, 2010

Ba cống hiến quan trọng của Công giáo


Ba cống hiến quan trọng của Công giáo

(Bài viết này là Ý kiến của một người ngoài Công giáo, ông Phan Thế Hải, chúng tôi xin chia sẻ để rộng đường dư luận)

Tôi là người ngoài Công giáo, nhưng rất tôn trọng các tín ngưỡng..

Những xung đột giữa cộng đồng Công giáo với nhà cầm quyền trong thời gian qua là điều không đáng có. Hơn thế, sau những xung đột đó, một số cán bộ có chức sắc đã có những đánh giá thiếu khách quan về vai trò của giáo dân với đất nước. Điều này không có ích cho khối đại đoàn kết dân tộc.
Để tạo được sự đồng thuận, không có cách nào khác là phải có cái nhìn khách quan về vai trò của các tôn giáo. Xin được điểm qua một vài cống hiến của bà con giáo dân với sự nghiệp chấn hưng nước nhà mà tôi có dịp chứng kiến suy ngẫm.

1- Chữ quốc ngữ và nền văn minh của nhân loại
Trước khi các nhà truyền giáo vào Việt Nam, hàng ngàn năm qua, người Việt vẫn dùng chữ Hán hoặc bằng chữ Nôm trong các giao dịch. Nhưng đa số người Việt Nam mù chữ và không thể đọc và viết được chữ Tàu, vì hệ thống chữ viết này quá phức tạp.
Từ thế kỷ XVI, cùng với các phát kiến hàng hải, các nhà truyền giáo theo các tàu buôn đến Việt Nam, họ là người tiên phong trong việc dùng mẫu tự La-tinh để viết lại âm giọng mà họ nghe được từ tiếng Việt. Đầu năm 1625, Linh Mục Alexandre de Rhodes đến Việt Nam , đã có một số phát âm tiếng Việt được viết bằng chữ La-tinh rồi.
Trên cơ sở đó, Alexandre de Rhodes (1591- 1660) tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện cách diễn đạt này, để rồi năm 1651, lần đầu tiên ông cho xuất bản cuốn tự điển VIỆT-BỒ-LA tại Roma. Đây được coi là năm sinh chính thức của chữ Quốc Ngữ. Cuộc khai sinh diễn ra tại nhà in Vatican . Chính nơi nhà in Vatican mà Việt Nam nhận

được chữ viết của mình. Như vậy, chữ quốc ngữ từ chỗ là công cụ truyền giáo trong các nhà thờ, đã từng bước trở thành ngôn ngữ cho toàn dân Việt Nam .

Ngày nay, không ai có phủ nhận sự thuận tiện và văn minh của chữ Quốc ngữ, chính nó đã góp phần lớn đưa đất nước VN hội nhập với thế giới dễ dàng, đơn giản hơn nhiều ngôn ngữ khác. Những ngôn ngữ chính dùng trên thế giới như Tiếng Anh, Tiếng Pháp… sẽ trở nên ít phức tạp hơn cho người học biết chữ quốc ngữ, so với người dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm. Nhưng nguồn gốc và công lao của người sinh ra ít được người ta nhắc đến, đó là sự thiếu công bằng.

Cùng với sự xuất hiện chữ quốc ngữ, những nét văn minh phương Tây cũng dần dần được du nhập vào VN đi kèm với Công giáo. Những hủ tục mê tín, dị đoan như cúng tế, bói toán… khi có bệnh được thay vào đó là bệnh viện, nhà thương bố thí, trường học cho người nghèo… Trước đây, nơi nào có Nhà thờ, thì ở đó có thêm trường học, nhà thương cho những người không có khả năng chữa bệnh hoặc học hành.
Ngoài ra, nếp sống quan niệm về cuộc sống cũng dần dần được đưa vào một cách khoa học, thiết thực hơn bởi các sản phẩm văn minh phương Tây mà những người truyền giáo mang đến cho đất nước An Nam theo bước chân truyền đạo của họ.
Nền văn hóa làng xã, cục bộ địa phương “sau lũy tre làng” cũng dần dần được thay đổi với cách nhìn toàn diện và tổng thể hơn. Với người Công giáo, bất cứ chỗ nào có giáo dân cũng là anh em, với mọi người đều là con Thiên Chúa dù khác đạo. Điều này dễ chứng minh nếu nhìn thấy bà con công giáo khắp nơi đã đổ về Thái Hà, về Xã Đoài… khi có những biến cố mà về mặt xã hội thì không liên quan đến những người ở xa xôi.

Những hoạt động của các Dòng tu trong Công giáo như Dòng Chúa Cứu Thế với linh hướng phục vụ người nghèo, Dòng Phanxicô theo linh hướng “Sống với tinh thần nghèo khó”… đã có những tác dụng thiết thực xoa dịu nỗi đau của những người nghèo khổ trong xã hội. Nhìn những cộng đồng tu hành phục vụ tại các trung tâm điều dưỡng, điều trị cho bệnh nhân AIDS, phục vụ những người đang vướng vào tệ nạn xã hội, nuôi dưỡng trẻ mồ côi… đã thể hiện rõ điều này và được xã hội công nhận.

2- Duy trì nền kinh tế nhiều thành phần
Thời bao cấp, do quan niệm thời kỳ quá độ tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội là nền kinh tế chỉ có hai thành phần chính là Kinh tế tập thể và Kinh tế quốc doanh. Mọi thành phần khác đều không được khuyến khích và chính thức thừa nhận.

Ruộng đất, các tư liệu sản xuất quan trọng khác và cả các loại hình dịch vụ đều phải tập trung vào hợp tác xã. Nhưng phong trào Hợp tác hóa nông nghiệp đã dần dần thể hiện rõ những bất cập của nó và sớm chết yểu bởi nó đi ngược với quy luật kinh tế và cách nghĩ truyền thống của nông dân Việt Nam . Chính vì thế có thể nói đó là một mô hình công xã ảo tưởng, nó đã tiêu diệt nền kinh tế nông nghiệp VN từ chỗ thừa gạo xuất khẩu đến một giai đoạn từ Trung ương đến địa phương, từ quan chức đến mỗi người dân đều chỉ lo… cái đói.

Tuy nhiên, nhiều nơi, đặc biệt là các vùng Công giáo vẫn có những gia đình, thậm chí là có những cơ sở không gia nhập Hợp tác xã nông nghiệp dù bị nhiều áp lực xã hội. Chẳng hạn theo tôi được biết, ở Thái Bình, Giám mục Đinh Đức Trụ là người đã công khai khuyến khích giáo dân không nên vào Hợp tác xã vì nó chỉ là ảo tưởng. Vì vậy bà con giáo dân vẫn kiên trì mô hình kinh tế hộ, và sau này vào thời kỳ đổi mới, đường lối đó được thực tế chứng minh là đúng đắn. Cả đất nước sau mấy chục năm Hợp tác hóa đã chấp nhận trở lại kinh tế cá thể.

Những hộ kinh tế cá thể không tham gia Hợp tác xã nông nghiệp, tự họ có thể nuôi sống mình mà không cần trợ giúp của nhà nước. Hơn thế, họ còn có nông sản dư thừa cung cấp cho thị trường đã là minh chứng sống cho việc khẳng định đường lối Hợp tác xã nông nghiệp là sai lầm. Điều này giúp cho các nhà hoạch định chính sách mạnh dạn khẳng định chủ trương chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần.

Thời kinh tế tập trung, mọi thứ hàng hóa đều do nhà nước quản lý và đều chịu sự phân phối từ trung ương xuống địa phương. Trong khi nhu cầu là sự đa dạng mà nhà nước thì không thể quán xuyến hết nên trong một thời gian thực thi chính sách này, nền kinh tế dần dần đi vào ngõ cụt, đời sống đói kém, hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng. Thế nên dân gian mới có câu: “Cái cứt gì cũng phân mà phân thì… như cứt”.

Khi sự đói kém bao phủ toàn xã hội thì ở những làng công giáo, đời sống đỡ tệ hơn nhiều. Làng Vĩnh Hòa thuộc xã Hợp Thành, quê tôi là một làng như vậy. Vào thời điểm đó, trong cộng đồng bà con công giáo, nền kinh tế gia đình vẫn âm thầm phát triển, đặc biệt là các nghề truyền thống. Do bị phân biệt đối xử nên cộng đồng bà con công giáo vẫn ngầm “móc ngoặc” nhau sản xuất hàng hóa và tiêu thụ trong cộng đồng rồi tuồn ra bên ngoài. Sau này tìm hiểu được biết thêm, không chỉ ở làng Vĩnh Hòa quê tôi mà cả các khu vực khác đông đồng bào Công giáo như Phát Diệm, Bùi chu… các ngành nghề phụ vẫn âm ỉ hoạt động và cung ứng hàng hóa cho xã hội.

Nhờ sự linh hoạt đó, nên khu vực kinh tế tư nhân mà nhà cầm quyền quyết tâm tiêu diệt đã không chết. Đặc biệt là trong cộng đồng Công giáo. Để rồi, khi dỡ bỏ chính sách cấm đoán đó, thành phần kinh tế này được dịp trỗi dậy, làm sinh động của nền kinh tế.

Hiện tượng này vẫn được đảng ta gọi là: “Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo

3- Tiên phong hội nhập
So với các tôn giáo khác, Công giáo là cộng đồng dân cư đa sắc tộc, đa quốc nhất. Trải dài từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam , hơn 175 nước và vùng lãnh thổ có bà con Công giáo sinh sống, nhưng tập trung một tỷ lệ lớn nhất ở các nước phương Tây. Chính vì sợi dây liên lạc này, nên ngay cả khi cấm đoán đang ở vào thời điểm cao trào thì cộng đồng Công giáo vẫn duy trì liên lạc với các tín hữu của mình ở ngoài biên giới quốc gia.

Những công trình Công giáo nguy nga, rộng lớn dành cho việc thờ tự đã là một nét văn hóa không thể tách rời từ lâu của nền văn hóa Việt Nam . Việc xây dựng các công trình đó đã đem đến cho Việt Nam những quan niệm ban đầu về một lĩnh vực mới về kiến trúc và xây dựng hiện đại… thoát ra khỏi những quan niệm xây dựng tranh tre lá nứa hoặc vôi cát từ lâu đã in sâu đậm trong quan niệm người Việt.
Cùng với đó, những nhà truyền giáo ngoại quốc vào Việt Nam khiến nhu cầu học tập ngôn ngữ nước ngoài cũng đã dần dần xuất hiện và cổ vũ cho sự tìm hiểu thể giới bên ngoài bắt đầu từ những cá nhân trong chính Công giáo như Nguyễn Trường Tộ

Việc sinh hoạt cộng đồng đã từng bước thay đổi cách sinh hoạt truyền thống của người Việt. Cùng kiến trúc là âm nhạc, hội họa là những môn nghệ thuật mới tạo ra sự khác biệt trong sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Việt xưa. Thông qua những sinh hoạt như vậy, người Việt Nam vượt qua được chính những định kiến, những tư tưởng cục bộ địa phương… đó được coi là những mầm mống đầu tiên cho sự hội nhập của đất nước sau này.

Cũng cần nói thêm, cuộc di cư vĩ đại từ Bắc vào Nam năm 1954 hầu hết là bà con Công giáo. Sau năm 75, là cuộc di tản vĩ đại sang các nước không cộng sản, trong đó chiếm tỷ trọng lớn là bà con Công giáo. Một tỷ lệ lớn người Việt ở Mỹ là bà con Công giáo. Họ là người có điều kiện tiếp cận với thể chế văn minh, dân chủ phát triển ở trình độ cao.

Khi nhà nước Việt Nam mở cửa, họ là những người đầu tiên về nước hoặc là gửi ngoại tệ về giúp thân nhân ở trong nước. Cùng với đó là hàng hóa, dịch vụ... Điều này giúp cho Việt Nam giảm căng thẳng về sự khan hiếm kéo dài trong những năm bao cấp. Hơn thế là cách thức tổ chức làm ăn, cách thức tổ chức đời sống và ý thức chấp hành pháp luật của một xã hội pháp quyền.
Có thể nói, cộng đồng công giáo là những người tiên phong hội nhập.

Trên đây là những cảm nhận được của riêng tôi, có thể các bạn có những phát hiện khác, xin mời có ý kiến tham gia!

Phan Thế Hải

Thứ Năm, 18 tháng 11, 2010

Chữ Công Giáo

Chữ Công Giáo


Kính thưa Quí Vị,
Kính thưa những ai quan tâm tranh luận về chữ "Công Giáo"

Kể ra cũng là một điều rất hay, xin cám ơn những ai đã vì bức xúc ý nghĩa của chữ "Công Giáo" mà đem ra bàn cãi, tranh luận bao nhiêu năm tháng nay.

Tại sao có tình trạng tranh luận mãi về chữ "Công Giáo". Ai cũng hiểu sở dĩ có sự tranh luận dai dẵng mãi là vì nhiều lý do:

1- Có người hiểu lầm chữ Công Giáo do TT Ngô Đình Diệm lợi dụng mình là tổng thống một quốc gia đem đạo của mình biến thành đạo của nước.

2- Có người hiểu lầm chữ công chỉ có nghĩa là thuộc về đất nước mà thôi.

3- Có người cho rằng đạo Công Giáo VN dành một mình trước các tôn giáo khác mà tôn cao đạo giáo mình lên trong đất nước Việt Nam hầu hạ thấp các tôn giáo khác xuống.

4- Cũng có người thấy chữ Công Giáo sao mà nó xinh đẹp hơn mấy chữ đạo Gia Tô, Da Tô, Thiên Chúa Giáo, nên sinh kình địch chống dối với hy vọng hảo là truất phế chữ "Công Giáo". Thật ra chữ Công Giáo không có ý nghĩa cao cả, vĩ đại như chữ Thiên Chúa Giáo đó chứ. Nhưng không thể dùng chữ Thiên Chúa giáo cho đạo Chúa Giêsu thuộc Giáo hội La Mã được, vì bị lẩn lộn với bao đạo khác cũng thuộc Thiên Chúa Giáo.

Nếu đạo Tin Lành đặt tên như vậy, có nghĩa là các phái khác là Tin dữ hay sao? Chính Thống Giáo đặt tên như vậy tỏ ra khinh các giáo phái khác là Bất chính hay sao?

Xin lỗi mà thưa rằng thật ra người hiểu lầm chữ CG là người hơi có óc thiển cận, tị hiềm, thiếu hiểu biết thôi chứ chẵng phải là cố đả kích gì đạo giáo CG. Vì Đạo Công Giáo không phải chỉ là đạo của một quốc gia. Đạo Công Giáo là Đạo của Đức Chúa Trời, Đạo Thiên Chúa. Vậy xin hỏi Trời với quốc gia cái nào trọng hơn.

Chính ra chữ Thiên Chúa Giáo rất là uy nghị đẹp đẽ, nhưng vì có rất nhiều đạo Thiên Chúa Giáo có trước đạo Công Giáo như đạo Do Thái, Đạo Mahomed của người Ả Rập, Đạo Trời của dân tộc Á Đông.... Tuy rằng Đạo Thờ Trời của Á Đông không có tổ chức thành một hiệp hội, cũng như đạo Ông Bà chúng ta cũng vậy, cá nhân và gia đình nào thì lo giữ Đạo Trời, Đạo Ông Bà cho bản thân và gia đình nấy.
Các vua chúa các nước Á Châu vì quá coi trọng Thượng Đế, nên chỉ dành việc thờ cúng Đạo Trời, tế trời cho mình, và chỉ coi vua là con Trời thôi, không cho phép dân được quyền xưng là Con Trời hay Thiên tử.

Chính vì trước Chúa Giêsu (công nguyên) đã có nhiều Đạo Thờ Trời như vậy nên đạo do Chúa Giêsu sáng lập đành phải chọn một tên khác. Người Âu Châu đặt tên là Catholicisme, các hệ phái ly khai mổi hệ tự do đặt một tên theo ý mình, ví dụ như Tin Lành, Chính Thống Giáo, Anh Giáo (tức quốc giáo đó), Đạo Thệ Phản vv....

Riêng các LM người Âu Châu khi qua Việt Nam, họ đã nghiên cứu về chữ nho, chữ hán, chữ nôm (là quốc ngữ của VN 3, 4 thế kỷ trước), nên họ rất giỏi về Hán học, Nôm học. Sự hiểu biết của họ có thua gì các học giả VN thời bấy giờ. Họ hiểu tường tận ý nghĩ từng chữ từ nguồn gốc sâu xa của nó và đã làm nên những quyển Tự điển đầu tiên rất xưa cho nền văn học của chúng ta. Ngày nay tìm cho được một Tự điển xưa là rất khó, và chúng trở thành rất quí báu.

Do sự thông thái về Hán họ, Nôm học của các nhà truyền giáo Âu Châu mà họ đã tìm ra một chữ có nghĩ là "chung cho cả hoàn vũ" là chữ "CÔNG".

Thưa quí vị, nếu có ai hiểu lầm chữ "Công" thuộc về quốc gia, thì đó là một việc sai lầm, và điều đó làm giảm giá trị chữ "CÔNG" trong ý nghĩ của chữ đạo Công Giáo. Vì sao tôi nói như vậy?

Thưa quí vị, nếu đạo Công Giáo mà chỉ là một đạo quốc giáo Việt Nam thì là một đạo giáo nhỏ nhoi quá, không đúng và không xứng đáng cho đạo Công Giáo của Chúa Giêsu là Thiên Chúa của chúng tôi lập ra.

Không, đạo Công giáo của chúng tôi là một đạo chẵng những là một tôn giáo của toàn thể thế giới, mà còn là một tôn giáo của Toàn Thể Vủ Trụ gồm cả Hoàn Vủ trên Trời và trên Trái Đất. Như vậy, vì đó là sự thật.

Vậy những ai có lòng ngại ngùng, hay sợ sệt, hoặc là có ý ganh tị chút nào (xin lỗi nếu tôi nói sai) về việc các LM Âu Châu từ trước và người CG hiện nay gọi là đạo Công Giáo làm cho họ sinh bực mình, ác cảm thì tôi xin thưa rằng : Đạo Công Giáo không hề bao giờ muốn hay cần là đạo của một quốc gia dầu lớn hay nhỏ. Vì đạo Công Giáo của chúng tôi là đạo của cả hoàn vũ, của cả Vũ trụ vô biên, đạo do Đức Chúa Trời lập ra, đạo từ trên Trời đi xuống, đổ xuống trần gian.

Tất cả đạo chúng tôi lấy ĐỨC TIN làm tiêu chuẩn trên hết. Ai không có ĐỨC TIN không vào đạo được. Và ai không có đức tin thì không thể tin đượ gì cả, suy luận với trí nhỏ bé hạn hữu của con người chỉ là vô ích. Đã không tin gì cả mà đem ra lý luận, tranh luận, bàn tán thì là chuyện mâu thuẩn. Vì càng tranh luận càng đi đến chổ sai lầm, đến làm cho chúng ta tự nghĩ mình chẵng biết tôn giáo là gì. Vì đạo Công giáo không phải chỉ thường tình con người như một bài toán đố cao cấp, cũng không phải tầm thường như một sự phát minh về khoa học....

Vì sao tôi nói như vậy? Xin thưa rằng dù toán học, khoa học, vũ trụ học, tâm lý học, thần học... cao cấp đến đâu cũng không thể giải thích được Đức Tin của đạo Công Giáo. Chỉ có một cách làm cho con người giải thích được đạo Công Giáo : Đó là sự MẶC KHẢI của đấng Thiên Chúa toàn năng, đó là sự LINH ỨNG THÁNH THIÊNG, đó là ƠN THÁNH SỦNG của đấng Thượng Đế ban cho mới có được.

Để kết luận tôi xin tóm gọn rằng chữ "CÔNG" trong chữ đạo "CÔNG GIÁO" có nghĩa là hoàn vũ vĩ đại, là vũ trụ vô biên. Chữ Công Giáo không hề nằm trong lãnh vực quốc gia với biên giới dù là nước Hoa Kỳ, Canada rộng lớn hay nước Việt Nam của chúng ta nhỏ bé. Vậy xin quí vị an tâm về chữ "CÔNG" hoàn vũ vượt bực trong tên gọi đạo Công Giáo của chúng tôi mà vì mặc cảm không gọi cho đúng nghĩa. Xin cám ơn.

Rất trân trọng,

BÁC SĨ NGUYỄN THỊ THANH
2010/9/8 Bac Si Nguyen Thi Thanh bacsi.nguyenthithanh@gmail.com

__________________________________________________
Đôi nét về
HỘI THÁNH CÔNG GIÁO



1. Danh xưng và ý nghĩa

Danh xưng Hội Thánh không có nghĩa là cac thành viên là thánh, mà vì Đấng sáng lập là THIÊN CHÚA, CHÚA GIÊSU KITÔ.



Công Giáo có nghĩa của mọi người, phổ quat, rộng mở, đại lượng, rộng lượng, khoan hồng, thuộc về Thiên Chúa. Công Giáo không phải là quôc giáo như một số người hiểu sai, và cũng không phải là thế giới giáo. Công Giáo vượt ra ngoài thế giới hữu hình.



Hội Thánh Công Giáo gồm: 1) Hội Thánh Khải Hoàn, là các thánh đang hưởng hạnh phúc trên thiên đàng với THIÊN CHÚA. 2) Hội Thánh Chiến Đấu, là những người Công giáo đang sống ở trần gian, phải chiến đấu với ma quỷ, xac thịt, thế gian. 3) Hội Thánh Thanh Luyện, là những linh hồn còn phải chịu thanh luyện trong Luyện ngục. Sau thời gian thanh luyện, những linh hồn này đuợc về thiên đàng.



Chúa Giêsu Kitô: “Cac con hãy đi khăp thế gian, rao giảng những gì Ta truyền cho cac con”.



Tình yêu của THIÊN CHÚA rộng ban cho muôn dân. Người Công Giáo có bổn phận sống yêu thuong, và mang yêu thương đến với mọi người không phân biệt họ là ai, kể cả với kẻ muốn hại mình, muốn giêt mình.



2. Nền tảng

Thiên thần Gabrien đến gặp Trinh nữ Maria và loan báo cho Maria biêt ý muốn của THIÊN CHÚA, thì Trinh nữ trả lời: “Tôi là tôi tớ của THIÊN CHÚA, tôi xin vâng lời THIÊN CHÚA như sứ thần truyền”. THIÊN CHÚA đã nhập thể, nhập thế qua cung lòng Trinh nữ Maria từ giây phut đó.



Năm 30 tuổi, Chúa Giêsu Kitô đi rao giảng chân lý, và chọn 12 môn đệ. Chúa Giêsu Kitô chọn một người trong nhóm 12 để trông nom Hội Thánh, và tiêp tục sứ mạng của Ngài ở trần thế. Ngài chọn Simon và gọi là Phêrô, có nghiã là tảng đá: “Phêrô, trên tảng đá này, Thầy xây Hội Thánh của Thầy mà quyền lực hỏa ngục không thắng nổi. Thầy trao cho con Chià Khóa Nươc Trời; dưới đât con cầm buộc, trên trời cũng cầm buộc; dưới đât con tháo gỡ, trên trời cũng tháo gỡ.” Mt16:18-19.



Phêrô là vị đại diện Hội Thánh của Chúa ở trần gian, và ngày nay chúng ta gọi là Giáo Hoàng. Vị đuong kim Giáo hoàng là Bênêđictô 16.



3. Bí Tích

Hội Thánh có 7 Bí Tich. Ở đây tôi đề cập đến 3 Bí tich quan trọng để được cứu rỗi.



3.1 Rửa Tội

Rửa Tội là Bí tich nhập môn, dành cho những ai muốn gia nhập Hội thánh. “Anh em hãy đi khăp thế gian rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu độ; ai không tin sẽ bị án phạt” Mc16:15-16



3.2 Giải Tội

"Vào buổi chiều, nơi các tông đồ đang sống, các cửa đều đóng kín vì các ông sợ người Do Thái. Chúa Giêsu Kitô đến đứng giữa cac ông và nói: ‘Bình an cho anh em’. Nói xong Người cho cac ông xem tay và cạnh sườn Người. Các tông đồ vui mừng vì thấy Chúa đã sống lại. Chúa lại nói: ‘Bình an cho anh em, như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.’ Nói xong, Chúa Giêsu Kitô thổi hơi vào các ông và bảo: ‘Anh em nhận lấy Chúa Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì tội người ấy được tha. Anh em cầm buộc tội ai, thì tội người ấy bị cầm buộc.” John 20:19-23.



3.3 Thánh Thể

“Trong bữa ăn, Chúa Giêsu Kitô cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra trao cho cac môn đệ và nói: ‘Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy’. Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho cac môn đệ và nói: ‘Anh em hãy uống chén này, đây là máu Thầy, máu Giao Ươc đổ ra cho muôn dân được ơn tha tội” Mt26:26-28



4. Trinh nữ Maria

Nói đến Hội Thánh Công Giáo là phải nói đến Trinh nữ Maria, vì những đặc ân Thiên Chúa ban cho Trinh nữ:



4.1. “Kinh mừng Maria đầy ơn phuc, THIÊN CHÚA ở cùng Bà. Bà sẽ thụ thai và sinh một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả và được gọi là Con Đấng Chí Cao”. Lc1:28-32



4.2. “Bở đâu tôi được Thân Mẫu của Chúa tôi đến với tôi.” Lc1:43

(Lời của Bà Elizabeth, được ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần đã nói ra với Trinh nữ Maria)



4.3. “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay hêt mọi đời sẽ khen tôi diễm phuc, vì Đấng Toàn Năng đã ban cho tôi bao điều cao cả.” Lc1:48-49



4.4. Lời xin vâng của Trinh nữ Maria, khi nge thiên thần Garbrien nói lên ý muốn của Thiên Chúa, là Trinh nữ đã cộng tac với thượng trí của Thiên Chúa. Giả dụ Maria có chêt ngay giây phut sinh Chúa Giêsu, thì Trinh nữ cũng xứng đáng được xem là đã cộng tac với Thiên Chúa trong chương trình cứu chuộc nhân loại.



4.5. “Thấy thiếu rượu, Trinh nữ Maria nói với Người: ‘Họ không còn rượu uống.’ Chúa Giêsu đáp: ‘Điều đó có liên quan gì đến mẹ và con. Giờ con chưa tới". Giờ của Chúa chưa tới, thế mà vì yêu quý Mẹ Maria, Chúa Giêsu đã làm nươc hóa thành rượu...



Với tình yêu và đặc ân của THIÊN CHÚA dành cho Trinh nữ Maria, người Công giáo băt chươc Chúa Giêsu, dành cho Trinh nữ Maria sự tôn kính đặc biệt.



5. Cac giáo phái tôn thờ Chúa Giêsu Kitô

Cac giáo phái tôn thờ Chúa Giêsu Kitô, là do sự tách ra từ Hội Thánh Công Giáo. Nói cach khac, Hội Thánh Công Giáo có trươc, vì do chính Chúa Cứu Thế Giêsu Kitô sáng lập.



*
Ngày nay Hội Thánh Công Giáo có thần dân ở khăp nơi, có tổ chức quy củ, kỷ luật, và có ảnh hưởng khắp thế giới. Nhưng cũng chính vì sự lớn mạnh đó, Hội Thánh cũng có lắm kẻ gen get muốn triệt hạ. Những kẻ gen get muốn triệt hạ Hội Thánh là ma quỷ, cộng sản, và những kẻ gian ác; nhưng chúng sẽ phải tủi nhục, vì Đấng Toàn Năng đã nói:

"PHÊRÔ, TRÊN TẢNG ĐÁ NÀY, THẦY XÂY HỘI THÁNH CỦA THẦY MÀ QUYỀN LỰC HỎA NGỤC KHÔNG THẮNG NỔI"



NguyễnHyVọng

Edit post

Thứ Tư, 27 tháng 10, 2010

Phép Lạ Của Tình Yêu


Phép lạ Leslie Lemke !

Ngày này sang ngày nọ, tháng này sang tháng khác, năm này qua năm kia, bà May Lemke, lúc bấy giờ 52 tuổi, là người đang nuôi dưỡng 5 người con của mình, đã lãnh nhận việc chăm sóc đứa trẻ bị bỏ rơi, đã trò chuyện, đã hát cho em nghe, khích lệ và yêu thương em, đã cố gắng gần như tuyệt vọng để xuyên qua bức tường câm điếc và bất động. Tận dụng hết cách, hết sức, rồi bà quay sang cầu nguyện. Và rồi… phép lạ đã xảy ra

Ngày hôm ấy, bệnh viện Quận hạt Milwaukee đã phải đối diện với nan đề: một hài nhi 6 tháng tuổi tên là Leslie, trì độn tâm trí, không mắt, liệt não bộ, mang đời sống thực vật, hoàn toàn không phản ứng với âm thanh và xúc giác. Cha mẹ em đã bỏ rơi em. Nhân viên trong bệnh viện không biết phải hành xử ra sao, mãi tới khi một bác sĩ chuyên khoa nhi đồng đã đề cập đến May Lemke, một nữ y tá đang sống gần nhà thương. Cô nhân viên gọi điện thoại cho May để nói về tình huống của Leslie, và cô nghĩ có phần chắc cậu bé bị bỏ rơi chỉ kéo dài cuộc sống trong một thời gian ngắn nữa mà thôi. Cô ta hỏi người bên kia đầu dây: “Bà có thể giúp chúng tôi chăm sóc cậu bé đang khi cậu còn sống được không?” Bà May khẳng khái đáp: “Tôi nhận lời. Nếu tôi chăm sóc em bé, chắc-chắn em sẽ không chết.” Vào lúc ấy, các cô y tá trong bệnh viện không hề đề cập đến chuyện ngân quỹ bệnh viện của quận hạt không thể cung cấp tiền cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh, và giả như có yêu cầu thì phần chắc là sẽ không bao giờ được họ chấp thuận.

Bà May và người chồng thứ hai là ông Joe, sống trong một căn nhà nhỏ gần đó bên bờ hồ Pewaukee. Là một cô dâu đến từ nước Anh sau Thế Chiến Thứ Nhất (World War-I), bà có 5 người con đã trưởng thành. Người chồng đầu tiên qua đời vào năm 1943, và 5 năm sau, bà tái hôn với Joe Lemke, một công nhân xây dựng lành nghề.

Khi chấp nhận nuôi Leslie, bà chấp nhận em như một em bé - không khác với những em bé khác, cần được nuôi dưỡng và cần được yêu thương.
Khi cho em bú sữa bình lần đầu tiên, bà nhận ra Leslie thiếu phản xạ mút, là phản ứng tự phát nơi hầu hết các trẻ sơ sinh. Hiển nhiên, em đã được nuôi bằng một ống dẫn sữa xuống dạ dày tại bệnh viện. Để tập cho em mút, bà đặt núm vú bình sữa giữa đôi môi của em, rồi đặt một núm vú khác giữa đôi môi của mình, áp sát vào má Leslie, bà mút núm vú đang lúc má của bà cọ sát với má của em, tạo ra âm thanh mút núm vú. Leslie đã nắm bắt được bài học này.

Đang lúc chăm sóc em, bà May thường hát những bài hát mà mình được nghe đi nghe lại từ thời thơ ấu. Bà đã thay đổi một vài từ để phù hợp với trường hợp của Leslie:

Từ trời cao rớt xuống một em bé,

Một em bé không có mắt

Một em bé luôn nằm nghỉ

Một em bé mà Thượng Đế biết rõ nhất.”

Bà tắm cho em, ôm em hàng giờ, trò chuyện với em, hát cho em nghe. Vậy mà em bé không hề cử động, miệng không thốt ra một âm thanh.

Năm này sang năm nọ, bà May kiên trì chăm sóc Leslie, nhưng em vẫn bất động. Không cười, không nước mắt, không cả âm thanh. Nếu như bà May không cẩn thận cột Leslie vào lưng ghế, em sẽ bị té nhào xuống đất ngay.

Dù vậy mặc lòng, bà May không bao giờ ngưng trò chuyện với Leslie. Bà mát xa lưng, chân, cánh tay, và ngón tay. Bà tiếp tục cầu nguyện, và đang khi cầu nguyện, đôi khi bà khóc, bà đặt bàn tay của Leslie nơi má mình để em có thể cảm nhận được nước mắt. "Ngay lúc này mẹ cảm thấy buồn, và mẹ đang khóc" Bà nói với Leslie.

Bà May không hề coi Leslie như là một gánh nặng. Bà tự nói với chính mình. “Tôi đã không đi tìm Leslie, hẳn phải có một lý do tại sao tôi lại được chọn để nuôi dưỡng cậu bé này. Sẽ có một lúc nào đó theo thời gian, Thiên Chúa sẽ cho tôi biết được lý do tại sao.”

Bà May không bao giờ thích đem Leslie ra nơi công cộng. Em là con trai của bà, và bà dành tình thương cho em. Bà cảm nghiệm nhờ trực giác: nơi sâu thẳm của não bộ bị hư hỏng, Leslie đang nỗ lực làm việc, và bà rất tự hào về em. Một lần trên một chuyến xe buýt, có một phụ nữ đã nhìn thấy bà May đang ôm Leslie trong vòng tay, đã nói chuyện với cậu bé nhiều lần, mà không được đáp ứng. Bà ấy lên tiếng nói: "Tại sao bà không đưa con bà vào một cơ sở nào đó? Bà đang lãng phí cuộc đời mình."
Bà May trả lời ngay:
Bà mới là người đang lãng phí cuộc đời của bà. Loại trẻ này được mang đến bên ta do lòng tử tế và tình thương, không chỉ trong một giờ, một tháng hoặc một năm.
Lòng tử tế và tình thương tồn tại lâu dài."

Mùa Hè đến, ông Joe chồng bà May đã mất nhiều giờ ở trong hồ tắm, đong đưa ôm cậu bé, hy vọng rằng các tác động tay chân của ông sẽ truyền cảm hứng cho Leslie để cậu bé có thể tự mình cử động chân tay, nhưng Leslie đã không hề phản ứng.

Cho đến mùa Thu, bà May đem Leslie đến trung tâm phục hồi chức năng ở Milwaukee . Nơi đây, không một ai nghĩ có thể làm được gì để cải thiện tình trạng của cậu bé, và họ cũng không có một lời khuyến khích nào dành cho bà May.

Tinh thần bi quan của các chuyên viên tại trung tâm phục hồi đã không ngăn cản được quyết tâm của bà May. Bà biết rằng một ngày nào đó Leslie sẽ thoát ra khỏi nhà tù của chính mình. Bà cần phải giúp em. Bà cố gắng nghĩ cách làm thế nào để đem khái niệm “đi bộ” vào tâm trí em. Leslie đã chưa hề thực hiện động tác đi hay bò. Em chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ ai đi bộ. Bà nhờ ông Joe chồng bà, là bạn đường hỗ trợ bà tối đa, làm cho bà một vành đai thắt lưng da rộng để đeo trên hông, có kèm theo các vòng nhỏ ở mỗi bên. Đang khi cất bước đi bộ, bà cài tay của Leslie vào vòng nhỏ bên hông, hy vọng em sẽ tiếp nhận được sự chuyển động đi bộ. Vậy mà Leslie vẫn bất động và được đeo lơ lửng phía sau lưng bà.

Kế đến, gia đình bà đã dựng một hàng rào mắt xích dọc theo phần đất của họ. Bà May giúp Leslie đứng bên cạnh hàng rào, đặt ngón tay của em qua các lỗ mắt xích của hàng rào. Sau vài tuần lễ, cuối cùng thì Leslie đã có ý tưởng để cho hàng rào hỗ trợ em. Em đứng lên được, lúc đó em được 16 tuổi.

Rồi để giúp em di chuyển dọc theo hàng rào. Bà May không ngừng trò chuyện với em, khuyến khích em. "Nào, con cưng ơi, chỉ bước đi một chút, một chút thôi." Bà lập đi lập lại hàng trăm lần, chính bà di chuyển tay, chân của em. Cuối cùng, em cũng đã tự mình làm được.

Khi em làm được rồi, bà cố gắng tìm cách dỗ dành em buông tay ra khỏi mắt lưới hàng rào, bà gọi: "Đến với mẹ đi con, cưng ơi, đến với mẹ." Sau nhiều tháng trời, Leslie học được cách chập chững lê chân đi bước một, rồi tới lúc được hai ba bước. Chiến tranh cân não thật khốc liệt không ngừng nghỉ, mặc dù bà May không hề nghĩ đó là một cuộc chiến! Bà chỉ đơn giản nghĩ bà phải phấn đấu để giúp cho con trai mình. Bà biết bà cần được sự trợ giúp từ trời cao trong nỗ lực này. Bà cầu nguyện, liên lỉ cầu nguyện xin Chúa giúp Leslie, xin Chúa làm điều gì đó cho Leslie. Chàng trai Leslie lên 18 tuổi, mà chỉ như là một em bé. Có lần bà May giận lẫy với Chúa: “Kinh thánh nói đến những phép lạ, thì xin Chúa làm một phép lạ cho đứa bé này đi.”

Một ngày kia, bà May để ý nhìn thấy ngón tay trỏ của Leslie cử động trên sợi giây quấn quanh một gói hàng, như thể búng ngón tay trên đó. Bà tự hỏi: Liệu đó có phải là một dấu chỉ? Nó có ý nghĩa gì? Rồi bà tự xác nhận: Âm nhạc, đúng là âm nhạc. Từ ngày đó trở đi, ngôi nhà của vợ chồng Lemke tràn ngập tiếng nhạc phát ra từ dĩa hát, từ đài phát thanh, từ đài truyền hình. Giờ nọ qua giờ kia, ngày này qua ngày khác, vậy mà Leslie vẫn không tỏ ra một dấu chỉ nào cho thấy anh đang nghe nhạc. Bà May và ông Joe tìm mua được một dương cầm cũ với giá $250. Ngày lại ngày, bà May làm đi làm lại động tác đặt ngón tay của Leslie lên trên phím đàn, tạo ra âm thanh. Anh ta vẫn hoàn toàn dửng dưng.

Cho đến mùa Đông năm 1971, bà May giật mình thức giấc bởi tiếng đàn vào lúc 3 giờ sáng. Một ai đó đang chơi tấu khúc “Dương cầm Concerto No. 1” của Tchaikovsky. Bà đánh thức Joe, hỏi: “Có phải ông quên chưa tắt Radio?” Ông trả lời: “Đâu có” Bà hỏi: “Vậy tiếng đàn dương cầm từ đâu?” Bà ngồi dậy bước ra khỏi phòng ngủ, bật đèn phòng khách lên. Qua ánh sáng lờ mờ hắt vào phòng Leslie, bà nhìn thấy anh đang ngồi tại chiếc đàn dương cầm, bà cũng thấy được nụ cười rạng rỡ trên gương mặt Leslie. Một đột biến không ngờ! Trước đó, anh chưa hề tự mình ra khỏi giường ngủ, chưa hề tự mình ngồi tại đàn dương cầm, chưa hề tự mình xử dụng ngón tay trên phím đàn, vậy mà Leslie đang chơi một tấu khúc, khéo léo và đầy tự tin.

Bà May quỳ sụp xuống cảm tạ Chúa: Chúa ơi, Ngài đã không quên Leslie. Điều đó cho thấy trước đây Leslie đã ghi nhận tiếng nhạc, lắng nghe hết sức chăm chú, tới mức bộ nhớ trong đầu của Leslie lưu trữ được từng dòng nhạc nghe qua thính giác, tựa như một máy điện toán. Không ai giải thích được làm thế nào mà tiếng nhạc tuôn trào ra khỏi Leslie vào buổi sáng mùa Đông ấy. Vậy mà chuyện đó đã xảy ra, như một cơn lốc xoáy.

Âm nhạc đã mở rộng cửa ngõ cho cảm xúc và sự phát triển, nên sau đó có lần bà May nghe Leslie phát âm được một từ ngữ. Thế rồi vào một buổi chiều, có một số trẻ em chơi đùa phía bên kia hàng rào mắt xích, bà May lên tiếng hỏi các em đang làm gì. Một em đã trả lời, "Chúng cháu đang vui." Còn Leslie thì bước được vài bước dọc theo hàng rào, bỗng lên tiếng nói "Tôi đang vui!" Anh nói bằng một giọng dày đặc nhưng có thể hiểu được. Đó là câu nói trọn vẹn đầu tiên của anh. Bà May sửng sốt ôm choàng lấy anh, vô cùng xúc động.

Một vài tháng sau đó, nơi phòng khách gia đình, đã xảy ra chuyện Leslie tự dưng phát run lên, và rồi nước mắt lăn trên má, "Con khóc!", anh nức nở, "Con khóc!" Anh đã không bao giờ khóc trước đó và bây giờ anh đã khóc được, giống như bà May đã dạy cho anh cảm nhận về nước mắt trước đây. Bà yên lặng nhìn anh khóc sướt mướt trong vòng 20 phút. Bà nhận biết đây là một ơn phước vì giờ đây anh đã có thể bày tỏ sự đau đớn hay nỗi sợ hãi đã bị khóa kín trong anh. Một chuyển biến tuyệt vời đối với bà. Leslie cũng còn học được cách cảm nhận theo cung cách riêng của mình xuyên qua các căn phòng trong nhà. Bà May và ông Joe dạy anh sử dụng nhà vệ sinh. Dạy anh đánh răng, và dạy anh tắm một mình.

Đang khi đó, kỹ năng về dương cầm của Leslie đều đặn gia tăng, anh bắt đầu ngồi suốt ngày bên cây đàn dương cầm. Anh chơi nhạc cổ điển, nhạc đồng quê, nhạc đạo và ngay cả nhạc rock. Thật là kinh ngạc! Tất cả những bản nhạc mà bà May mở cho Leslie nghe, đều được ghi nhận trong óc của anh, và nay được dịp tuôn ra từ các ngón tay đặt trên phím dương cầm.

Năm Leslie được 21 tuổi, anh bắt đầu nói chuyện, có thể đặt câu hỏi và đưa ra những câu trả lời giản dị khi đối thoại. Bà May khuyến khích tài năng đàn dương cầm của Leslie trước công chúng vì bà nghĩ nhờ sự đóng góp âm nhạc của Leslie, sẽ tạo được nơi anh cảm giác tham gia sinh hoạt xã hội, và thiên hạ cũng học được rất nhiều từ một con người được hòa nhập vào thế giới con người, từ một tình trạng được cho là hoàn toàn vô vọng và thật tuyệt vọng. Leslie thường xuyên góp mặt tại các buổi hòa nhạc ở Fond du Lac, Wisconsin. Danh tiếng của Leslie vang xa nên khiến cho nhiều đài truyền hình trên toàn quốc đã mời Leslie đến trình diễn, như “Man Alive” của CBC, Evening News”, “60 Minutes”“That’s Incredible” của CBS.

Năm 1983, ABC cũng đã phát hình câu chuyện về Leslie Và Người Mẹ Nuôi mang tựa đề “The Women Who Willed A Miracle”. Leslie đã lên đường lưu diễn trong nước Mỹ, tại nhiều quốc gia, Scandinavia và Nhật Bản, cũng thực hiện nhiều buổi hòa nhạc miễn phí vào các dịp lễ hội khác nhau. Leslie yêu thích trình diễn. Đôi khi anh nổi hứng cất tiếng hát đang lúc ngồi chờ chuyến bay tại phi trường. Lúc mới nghe anh hát vài nốt nhạc đầu tiên thì thiên hạ giật mình, nhưng khi anh kết thúc bài hát, thì mọi người đều vỗ tay tán thưởng.

Cho dù các ngón tay của Leslie điêu luyện trên phím đàn, thì vẫn còn rất nhiều hạn chế cho Leslie lúc phải cầm dao hay nĩa khi dùng bữa. Cũng như việc đối thoại với Leslie thì diễn tiến không được trơn tru. Khi được hỏi âm nhạc có ý nghĩa gì đối với anh, Leslie đã trả lời chắc nịch: “Âm nhạc… là tình yêu!”.

Lời bàn:

Tình Yêu đã hình thành phép lạ Leslie Lemke, biến cái “không thể” thành “có thể”. Con người thời đại mới với tâm thức hưởng thụ mọi tiện nghi vật chất, quen lối sống tốc độ, muốn nhìn thấy mọi thành quả tựa như mì ăn liền, như cái nhấn của con chuột trên bộ máy điện toán, thì không thể hiểu nổi tại sao bà May Lemke đang sống an nhàn với chồng và 5 người con, lại còn muốn gánh vác số phận đau thương của cậu bé Leslie? Phải mất 16 năm mới dạy cho một đứa con nuôi có đời sống vô sinh tật nguyền từ 6 tháng tuổi mới tự đứng lên được, cũng như phải mất 21 năm mới có thể giúp cho Leslie phát âm được, thì bà May Lemke phải có trái tim của một bồ tát, phải có một niềm tin vô cùng sâu sắc, thì mới có thể gầy dựng nên một thiên tài, một nhân tính bị vất bỏ, từ trái tim bé nhỏ của mình.
Vị bồ tát của chúng ta: May Lemke đã qua đời vào ngày 6-11-1993 vì căn bệnh lú lẫn Alzheimer, nhưng gương sáng của bà đã và sẽ còn là nguồn hứng khởi trong cõi nhân sinh.

Nguyễn Đông-Khê

Thứ Hai, 25 tháng 10, 2010

MẶC KHẢI VỀ THÁNH LỄ

MẶC KHẢI VỀ THÁNH LỄ



[copy from dongcong.org]

THÁNH LỄ

Theo lời Chúa Giêsu và Mẹ Maria giải thích cho chị Catalina

Chị Catalina Rives quê quán Cochabamba, Bolivia, hiện nay ở tại Mérida, Yucatán, México. Chị Catalina nhận được Thông điệp từ Chúa Giêsu và Mẹ Maria, và các thiên thần. Giám Mục giáo phận là Đức GM René Fernández Apaza chấp nhận và cấp Imprimature cho các thông điệp chị phổ biến. Sau đây là bản văn từ tập sách nhỏ tựa đề “THÁNH LỄ,” trong sách này Chúa Giêsu và Đức Mẹ giải thích cho Catalina những sự việc xảy ra suốt Thánh Lễ trong bối cảnh thiêng liêng bao la, chúng ta cần phải chú tâm (1) nhiều hơn vào các mầu nhiệm cao cả đang diễn ra.

Đức Giám mục Daniel Gagnon, OMI, thuộc Ủy Ban Tín Lý Tổng Giáo Phận Mexico, viết về tập sách này như sau: “Tôi không thấy điều chi nghịch với đức tin hoặc truyền thống Giáo Hội. Tôi không có phận sự xác nhận tính cách siêu nhiên của sách này; tuy nhiên, tôi khuyến khích đọc vì tính cách thần hướng của sách này.”

Trong bối cảnh Năm Thánh Thể, và Thượng Hội Đồng Giám Mục ở Roma về “Phép Thánh Thể, nguồn mạch và đỉnh cao của đời sống và sứ mệnh Giáo Hội”, thì chúng ta cần phải đọc những lời Chúa Giêsu nói với trái tim chúng ta.

(1) Chú thích: Chúng ta cần tích cực tham dự và lắng nghe Lời Chúa trong các Thánh Thư, Đáp Ca và Phúc Âm; lớn tiếng dâng lên kinh nguyện và dáp ca, tiếp đáp trong Thánh Lễ; âm thầm xướng theo dâng lên những kinh nguyện Giáo Hội quy định chỉ dành cho linh mục chủ tế; ngoài ra không nên làm việc gì khác trong Thánh Lễ (ý kiến thô thiển của người chuyển ngữ).

Lời Chứng của chị Catalina về THÁNH LỄ

Trong một bài giáo lý tuyệt vời, Chúa và Đức Trinh Nữ Maria đã liên tiếp dạy chúng tôi trước hết phải cầu nguyện kinh Mân Côi như thế nào, cách đó là cầu nguyện bằng trái tim, suy gẫm và vui hưởng những giây phút tiếp xúc với Thiên Chúa và Thánh Mẫu của chúng ta. Chúa và Đức Mẹ cũng đã dạy chúng tôi cách xưng tội tốt lành (xưng tội nên) và, trong tài liệu này, một giáo huấn về những gì xảy ra suốt Thánh Lễ và cách sống Thánh Lễ bằng trái tim.

Tôi (Catalina) có nhiệm vụ và muốn loan truyền khắp thế giới lời chứng sau đây, vì Vinh Danh cao cả của Thiên Chúa và vì phần rỗi tất cả những người sẵn lòng mở rộng trái tim ra cho Chúa. Lời chứng này cũng được công bố để nhiều linh hồn đã thánh hiến cho Thiên Chúa sẽ lại cháy lên ngọn lửa yêu mến Chúa Kitô, một số trong các linh hồn đó có trong tay quyền đem Chúa đến cho thế giới chúng ta ngõ hầu Chúa trở nên lương thực dinh dưỡng chúng ta. Lời chứng này cũng được trình bày cho những người khác để mong họ từ bỏ “việc rước Chúa theo thói quen” (break loose of the “routine practice” of receiving Him), và làm sống lại sự lạ lùng tuyệt vời của việc tiếp xúc với Tình Yêu (Chúa trong Nhiệm Tích Thánh Thể) hằng ngày. Và lời chứng này cũng được đưa ra ngõ hầu quí anh chị em giáo dân khắp thế giới sống Phép Lạ vĩ đại nhất bằng trái tim: Cử Mừng Mầu Nhiệm Thánh Thể.

Ngày áp lễ Truyền Tin, và các thành viên trong nhóm chúng tôi đã đi lãnh Nhiệm Tích Giao Hòa. Một số chị em trong nhóm cầu nguyện không tham dự được, nên các chị ấychờ đến trước Thánh Lễ sáng hôm sau.

Khi tôi tới thánh đường ngày hôm sau, hơi trễ một chút, Đức Tổng Giám Mục và các linh mục đã từ phòng áo tiến ra. Đức Trinh Mẫu Maria nói và giọng của Người là giọng nữ dịu dàng âu yếm:

“Hôm nay là ngày con phải học hỏi, và Mẹ muốn con hết sức chú ý những gì con sẽ chứng kiến hôm nay. Mọi sự con trải qua hôm nay, con sẽ phải chia sẻ với toàn thể nhân loại.” Tôi hết sức xúc động mà không hiểu tại sao, như tôi cố gắng chú ý hết sức.

Điều thứ nhất tôi nhận thấy là một ca đoàn gồm những giọng hát tuyệt vời đang ca hát như thể mãi tận nơi xa xăm. Một lát tiếng nhạc tới gần hơn, và rồi, tiếng nhạc đó lại đi xa tựa như tiếng gió.

Đức Tổng Giám Mục bắt đầu Thánh Lễ và, khi đến phần kinh Thống Hối, Đức Trinh Nữ nói:

“Từ đáy tâm hồn con, con hãy xin Chúa tha thứ mọi tội lỗi con đã xúc phạm đến Ngài. Theo cách này, con sẽ có thể tham dự cách xứng đáng vào đặc ân tham dự Thánh Lễ.”

Tôi thoáng nghĩ: “Hẳn là con ở trong tình trạng ân sủng của Thiên Chúa; con mới xưng tội tối hôm qua.”

Đức Mẹ trả lời: “Con nghĩ rằng từ đêm qua con đã không xúc phạm đến Chúa ư? Hãy để Mẹ nhắc con nhớ đôi điều. Khi con ra khỏi nhà đến đây, người con gái giúp đỡ con đến hỏi con điều gì đó, vì con bị trễ và vội vàng, con đã không trả lời cô gái đó cách nhẹ nhàng tế nhị. Đó là một thiếu sót đức ái về phần con, mà con bảo, con đã không xúc phạm đến Thiên Chúa ...?

“Trong khi đi đường đến đây, chiếc xe bus lấn qua làn xe (lane) của con và xuýt nữa đụng vào con. Con bộc lộ giận dữ đối với người đàn ông khốn khổ đó, thay vì dâng lời cầu nguyện và chuẩn bị tâm hồn dâng Thánh Lễ. Con đã thất bại trong việc bác ái và mất bình an và bình tĩnh. Thế mà con nói con không xúc phạm đến Chúa?

“Phút chót con mới đến khi vị chủ tế và các linh mục đồng tế đã tiến ra để cử hành Thánh Lễ ... con sắp sửa tham dự mà không chuẩn bị trước ...”

Tôi đáp lại, “Vâng đủ rồi, thưa Đức Mẹ, xin đừng nói gì thêm với con nữa. Mẹ không phải nhắc con nhớ thêm gì nữa bởi con sắp chết vì ưu phiền và xấu hổ đây.”

“Tại sao cứ phải vào phút chót các con mới đến? Các con cần phải tới sớm hơn để có thể cầu nguyện xin Chúa gửi Chúa Thánh Linh của Ngài đến ban cho các con tâm hồn bình an và thanh tẩy tinh thần thế giới, giúp các con gỡ bỏ những lo lắng, những khó khăn và những chia trí để các con có thể sống giây phút hết sức thánh thiêng này. Tuy nhiên, khi con tới thì hầu như vị chủ lễ sắp sửa bắt đầu, và con tham dự chẳng khác gì Thánh Lễ chỉ là một sự việc tầm thường, chẳng có chút chuẩn bị tinh thần (tâm hồn) nào. Tại sao? Nhiệm tích Thánh Thể là Phép Lạ vĩ đại nhất trong các Phép Lạ. Con sắp sửa sống giây phút khi Thiên Chúa Tối Cao ban ân sủng cao cả nhất của Ngài, và con không biết phải quí trọng ân sủng đó thế nào cho phải.”

Bấy nhiêu đủ rồi. Tôi cảm thấy mình quá tệ và phải xin Chúa tha thứ. Tôi phải xin Chúa tha thứ không những chỉ cho những lỗi lầm ngày hôm đó, nhưng cũng xin tha thứ cho những lần trước, cũng như đối với quá nhiều người. Tôi đã chờ cho tới khi vị linh mục giảng xong mới bước vào thánh đường. Tôi cũng xin tha thứ vì những lần tôi không ý thức hoặc đã không muốn hiểu đến thánh đường có ý nghĩa gì, và vì những lần mà có thể linh hồn tôi đầy tội trọng, mà tôi đã cả gan tham dự Thánh Lễ.

Hôm đó là ngày Lễ Trọng có tụng kinh Vinh Danh. Đức Mẹ nói: “Con hãy tôn vinh và chúc tụng Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh bằng tận tình yêu mến, nhìn nhận mình là một trong các thụ tạo của Thiên Chúa.”

Kinh Vinh Danh đó khác lạ biết chừng nào! Bất chợt tôi thấy từ một nơi xa xăm đầy ánh sáng, trước Sự Hiện Diện Uy Nghi Cao Cả của Ngai Tòa Thiên Chúa. Hết lòng yêu mến tôi tiếp tục tạ ơn Chúa, tôi lặp đi lặp lại: “Chúng con ca ngợi vinh quang cao cả của Chúa, chúng con chúc tụng Chúa, chúng con ca ngợi Chúa, chúng con thờ lạy Chúa, chúng con tôn vinh Chúa, chúng con cảm tạ Chúa, Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa, Vua Thiên Đàng, Chúa Cha Toàn Năng.” Và tôi hồi tưởng khuôn mặt từ phụ của Chúa Cha, đầy nhân lành hiền từ. “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con duy nhất của Chúa Cha, Chúa là Thiên Chúa, Chiên Thiên Chúa, Chúa gánh tội trần gian ...” Và Chúa Giêsu đứng trước mặt tôi, gương mặt Ngài dịu hiền và Thương Xót ...”Vì chỉ có Chúa là Đấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa, chỉ có Chúa là Chúa Giêsu Kitô Tối Cao, cùng với Chúa Thánh Thần ...” Thiên Chúa của Tình Yêu tuyệt vời, Chúa, Chính Ngài vào lúc đó, làm cho toàn thân tôi run lên ...

Và tôi xin: “Lạy Chúa, xin cứu con khỏi mọi tà thần. Trái tim con thuộc về Chúa. Lạy Chúa của con, xin gửi cho con sự bình an của Chúa để con có thể được mọi ơn phúc cao quí nhất từ Phép Thánh Thể và để cuộc đời con có thể sinh ra hoa trái tốt lành nhất. Lạy Thánh Linh Thiên Chúa, xin biến cải con, xin hành động trong con, xin hướng dẫn con. Ồ lạy Chúa, xin cho con những ơn con cần để phụng sự Chúa đắc lực hơn!

Đến phần Phụng vụ Lời Chúa Đức Trinh Nữ Maria bảo tôi nhắc lại: “Lạy Chúa, hôm nay con muốn lắng nghe Lời Chúa và sinh ra nhiều hoa trái. Xin Chúa Thánh Linh của Chúa tẩy sạch đáy lòng con để Lời Chúa mọc và lớn lên trong đó, xin thanh tẩy trái tim con để trái tim con được sẵn sàng.”

Đức Mẹ nói: “Mẹ muốn con chú tâm vào những bài đọc và lời giảng của linh mục. Con hãy nhớ Sách Phúc Âm dạy rằng Lời của Thiên Chúa không trở lại mà không sinh ra hoa trái. Nếu con chăm chú, thì những điều con nghe sẽ ở lại trong con. Suốt ngày, con hãy cố gắng nhớ lại những Lời mà con chú ý. Đôi khi có thể là hai vế, lần khác có thể là toàn bài Phúc Âm, hoặc có thể chỉ là một chữ. Suốt ngày, con hãy nhớ những lời đó, và lời đó sẽ trở thành sự sống của con (become part of you), vì đó là cách thay đổi cuộc sống, bằng cách để cho Lời Thiên Chúa biến đổi con.

“Và lúc này, con hãy nói với Chúa rằng con đến đây để lắng nghe, rằng con muốn Ngài nói với trái tim con hôm nay.”

Tôi lại lần nữa cảm tạ Thiên Chúa vì đã ban cho tôi cơ hội nghe Lời Ngài. Và tôi xin Chúa tha thứ cho trái tim tôi đã chai đá suốt bao nhiêu năm dài, và vì đã dạy các con tôi rằng chúng phải đi Lễ Chúa Nhật vì Giáo Hội buộc, chứ không phải vì yêu mến và cần được hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa .

Tôi đã dự quá nhiều Thánh Lễ mà hầu hết chỉ vì bắt buộc và, nhờ thế, tôi tin rằng tôi đã được cứu độ (được rỗi linh hồn). Nhưng tôi đã không sống Thánh Lễ, lại càng ít để ý hơn vào các bài đọc hoặc bài giảng của linh mục!

Tôi cảm thấy đau xót hối tiếc vì quá nhiều năm lãng phí vô ích vì sự ngu dốt của tôi! Chúng ta tham dự Thánh Lễ cách hết sức hời hợt bề ngoài khi chúng ta đến tham dự Thánh Lễ khi người nào đó kết hôn, hoặc Thánh Lễ an táng, hoặc chỉ để cộng đoàn thấy mình có đến dự Thánh Lễ! Chúng ta khờ dại chẳng biết gì về Giáo Hội và các Nhiệm Tích! Chúng ta phí phạm biết bao nhiêu trong việc cố gắng tìm kiếm và học hỏi về những thứ ở đời này là những thứ mà chỉ trong giây lát có thể biến mất, chẳng để lại cho chúng ta gì cả và, cuối đời chúng ta, chẳng kéo dài cuộc sống của chúng ta được lấy một phút! Dẫu vậy, chúng ta chẳng biết gì về những điều đem lại cho chúng ta một chút hạnh phúc thiên đàng ngay ở trần thế và, sau đó, sự sống vĩnh cửu. Thế mà chúng ta tự cho mình là có văn hóa.

Một lát sau đến phần dâng bánh rượu (offertory), Đức Mẹ nói: “Con hãy cầu nguyện theo cách này: (tôi lặp theo lời Đức Mẹ) Lạy Chúa, con dâng lên Chúa toàn thân con, tất cả mọi thứ con có, và tất cả mọi sự con có thể. Con đặt hết mọi sự trong tay Chúa. Xin Chúa bồi đắp toàn thân con. Lạy Thiên Chúa Toàn Năng, nhờ công nghiệp của Con Chúa, xin Chúa biến đổi con. Con cầu xin Chúa cho gia đình con, cho những ân nhân của con, cho từng thành viên trong Nhóm Tông Đồ của chúng con, cho tất cả những người chống lại chúng con, cho những người nhờ lời cầu nguyện nghèo nàn khô khan của con. Xin Chúa dạy con khiêm tốn trước mặt những người đó để những người đó bớt khó khăn trong cuộc sống. Đây là cách các thánh cầu nguyện; đây là điều Mẹ muốn tất cả các con cầu nguyện.”

Bởi thế, đây là cách Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta cầu nguyện, chúng ta hạ mình xuống tận đất để trái tim chúng ta không cảm thấy sự cay nghiệt của nó, nhưng trái lại chúng ta làm nhẹ bớt (xoa dịu) nỗi đau khổ những bước chân của họ.

Chợt có một số người, mà tôi chưa thấy bao giờ, bắt đầu đứng lên. Như thể từ bên cạnh mỗi người hiện diện trong Vương Cung Thánh Đường, một người khác đi vào, và lập tức khắp Thánh Đường đầy những người trẻ trung xinh đẹp. Những người đó mặc áo dài trắng tinh, kế đến họ bắt đầu di chuyển vào lối đi giữa lòng Thánh Đường, rồi, tiến về phía Bàn Thờ.

Đức Mẹ nói: “Con coi. Những người đó là Thiên Thần Hộ Mệnh của từng người hiện diện tại đây. Đây là thời gian mà Thiên Thần Hộ Mệnh của các con đem lễ phẩm và lời cầu xin của các con lên trước Bàn Thờ Chúa.”

Lúc đó, tôi hết sức sửng sốt, vì khuôn mặt các thiên thần xinh đẹp, hết sức rạng rỡ không thể hình dung. Khuôn mặt các thiên thần rất xinh đẹp gần như gương mặt phụ nữ; tuy nhiên, dáng vóc thân mình các ngài, bàn tay, bề cao là nam. Chân trần của các ngài không chạm đất, nhưng đúng hơn thì chẳng khác gì lướt đi. Đám rước hết sức đẹp.

Một số thiên thần mang thứ gì tựa như chén vàng đựng thứ gì chiếu ánh sáng rực rỡ màu vàng-trắng-hoàng kim. Đức Mẹ nói: “Các vị đó là Thiên Thần Hộ Mệnh của những người đang dâng Thánh Lễ này cho nhiều ý cầu nguyện, những người đó ý thức ý nghĩa việc cử mừng Thánh Lễ. Những người ấy có lễ phẩm dâng lên Chúa.”

“Bây giờ con hãy dâng chính thân con; dâng những buồn phiền, đau đớn, hy vọng, buồn lòng, niềm vui, những điều con nguyện xin. Con hãy nhớ Thánh Lễ vô giá (cao quí vô cùng). Bởi thế, con hãy quảng đại khi hiến dâng và cầu xin.”

Phía sau các Thiên Thần thứ nhất xuất hiện những Thiên Thần khác không có gì trong tay; các vị ấy đến tay không. Đức Mẹ nói: “Đó là các thiên thần của những người đến đây mà chẳng khi nào dâng gì cả. Họ không chú ý sống mỗi giây phút phụng vụ Thánh Lễ, và họ chẳng có lễ phẩm gì để đem tới trước Bàn Thờ Chúa.”

Lúc cuối nghi thức, xuất hiện những Thiên Thần khác mà gương mặt rầu rĩ, hai tay chắp lại cầu nguyện, nhưng mắt nhìn xuống. “Đấy là Thiên Thần của những người hiện diện tại đây, nhưng họ không muốn tới, nghĩa là, Thiên Thần của những người bị cưỡng bách tới đây, những người đến vì bị bắt buộc, nhưng không hề muốn tham dự Thánh Lễ. Các Thiên Thần tiến ra rầu rĩ vì các ngài chẳng có gì để đem tới Bàn Thờ, ngoại trừ lời cầu nguyện của chính các ngài.”

“Con đừng làm buồn lòng Thiên Thần Hộ Mệnh của con. Con hãy cầu xin nhiều, xin cho việc cải đổi những kẻ tội lỗi, xin bình an cho thế giới, cho gia đình con, cho những lân cận, cho những người xin con cầu nguyện cho. Con hãy cầu nguyện, hãy cầu xin thiệt nhiều, nhưng đừng cầu xin cho riêng con, nhưng cho mọi người khác.

“Con hãy nhớ lễ phẩm đẹp lòng Chúa nhất là khi con hiến dâng chính con làm của lễ hy sinh để Chúa Giêsu, khi Ngài ngự đến, biến đổi con bằng công nghiệp của Ngài. Con có gì để tự hiến dâng lên Chúa Cha? Chỉ có sự hư không và tội lỗi. Nhưng lễ phẩm của con kết hiệp với công nghiệp của Chúa Giêsu, lễ phẩm đó đẹp lòng Thiên Chúa Cha.”

Quang cảnh đó, cuộc thiên thần diễn hành đó hết sức đẹp khó có gì khác so sánh được. Tất cả các thiên thần cúi mình trước Bàn Thờ, một số vị để lễ phẩm trên nền đất, những vị khác quỳ gối sấp mình trán gần chạm đất. Và ngay khi các ngài tiến tới Bàn Thờ, tôi không còn nhìn thấy các ngài nữa.

Vào cuối Kinh Tiền Tụng, và khi cộng đồng xướng lên, “Thánh, Thánh, Thánh,” thì thình lình mọi sự ở phía sau vị chủ tế biến đi. Phía sau bên trái Đức Tổng Giám Mục, hàng ngàn Thiên Thần xuất hiện theo đường chéo, những thiên thần bé nhỏ, cao lớn, có cánh lớn, có cánh nhỏ và không có cánh. Cũng như các thiên thần trước, tất cả đều mặc áo dài tựa áo dài trắng của linh mục hoặc người giúp lễ. Các thiên thần đều quỳ chắp tay cầu nguyện, và cúi đầu tôn kính. Tôi nghe tiếng nhạc tuyệt diệu như thể gồm nhiều ca đoàn với nhiều giọng điệu khác nhau, tất cả đều ca hát hợp với mọi người: Thánh, Thánh, Thánh. ...

Giây phút Truyền Phép, giây phút xuất hiện những Phép Lạ kỳ diệu nhất. Phía sau bên phải Đức Tổng Giám Mục xuất hiện muôn vàn người cũng đứng theo đường chéo. Các vị đó cũng mặc áo dài, nhưng có mầu sác: hồng, xanh lá cây, dương nhạt, màu tía (tím) nhạt, màu vàng, tóm lại, rất nhiều mầu lợt khác nhau. Gương mặt các vị đó đều rạng rỡ, hân hoan. Các vị ấy dường như cùng trạc tuổi như nhau. Các bạn có thể ghi nhận (tôi không thể nói tại sao) rằng những vị đó thuộc mọi lớp tuổi, nhưng gương mặt trông tương tự như nhau, không vết nhăn, hạnh phúc. Tất cả các vị đó đều quỳ gối và hát “Thánh, Thánh, Thánh ... “ (Holy, Holy, Holy Lord ...)

Đức Mẹ nói: “Đây là các hiển thánh và linh hồn thánh trên Thiên Đàng, và trong số đó có những linh hồn thân nhân của con đã được hưởng Thánh Nhan Thiên Chúa.” Khi tôi nhìn thấy Đức Mẹ, một bước phía sau bên phải Đức Tổng Giám Mục chủ lễ. Đức Mẹ trên mặt đất một chút quỳ gối trên thứ khăn rất đẹp, trong suốt, nhưng đồng thời, rực rỡ, tựa như nước tinh tuyền. Đức Mẹ, hai tay chắp lại, chăm chú nhìn cách kính trọng vào vị chủ lễ. Đức Mẹ nói với tôi, nhưng không thành tiếng, trực tiếp với trái tim tôi, mà không nhìn tôi:

“Con bỡ ngỡ khi thấy Mẹ đứng phía sau Đức Cha (Đức Tổng Giám Mục), phải không? Đây đúng là điều phải như thế ... Với tất cả tình yêu mà Con của Mẹ dành cho Mẹ, Ngài đã không cho Mẹ ưu vị Ngài đã cho các linh mục được cử hành Mầu Nhiệm Lạ Lùng (Phép Thánh Thể) bằng đôi bàn tay của Mẹ như các ngài thực hiện bằng đôi bàn tay linh mục của mình. Vì điều này, Mẹ kính trọng cách đặc biệt sâu xa đối với các linh mục và đối với phép lạ mà Thiên Chúa thể hiện qua các ngài, điều đó làm cho Mẹ phải quỳ ở đây phía sau các ngài.”

Lạy Thiên Chúa của con, Chúa tuôn đổ xuống trên các linh hồn tư tế phẩm giá cao quí chừng nào và biết bao ân sủng, mà cả chúng con và có thể cả đến một số các vị đó, không ý thức được điều này.

Trước Bàn Thờ xuất hiện một số bóng người mặc áo mầu xám hai tay đưa lên cao. Đức Mẹ nói: Đây là những linh hồn thánh trong Luyện Ngục, những linh hồn đó chờ đợi lời cầu nguyện của (các) con để được thanh thoát. Con đừng ngưng nghỉ cầu nguyện cho các linh hồn đó. Các linh hồn ấy cầu nguyện cho (các) con, nhưng các linh hồn ấy không cầu nguyện cho mình được. Chính các con cần phải cầu nguyện cho họ, ngõ hầu giúp giúp họ khỏi Luyện Ngục để được ở với Thiên Chúa và hưởng Thánh Nhan Chúa đời đời.

“Bây giờ con thấy đó; Mẹ luôn luôn ở đây. Người ta đi hành hương, kiếm tìm đến những nơi Mẹ hiện ra. Điều này tốt, vì mọi hồng ân họ sẽ nhận lãnh tại đó. Nhưng khi Mẹ không hiện ra, thì không nơi nào Mẹ hiện diện nhiều hơn trong Thánh Lễ. Các con lúc nào cũng tìm thấy Mẹ nơi chân Bàn Thờ nơi Mầu Nhiệm Thánh Thể được cử hành (dâng hiến); Mẹ ở tại chân Bàn Thờ cùng với các thiên thần vì Mẹ luôn luôn ở với Chúa.”

Nhìn thấy khuôn mặt xinh đẹp của Đức Mẹ vào lúc xướng “Thánh, Thánh, Thánh ...” cũng như tất cả mọi lúc khác cùng với những khuôn mặt rạng rỡ hân hoan, những bàn tay chắp lại, chờ đợi phép lạ tái diễn không ngừng, là ở chính Thiên Đàng. Và khi nghĩ đến có những người mà họ có thể, vào lúc đó, chia trí vì nói chuyện. Điều đó làm Mẹ đau lòng phải nói cho con biết, người nam nhiều hơn phụ nữ, đứng khoanh tay, như thể tôn thờ Chúa cũng chỉ ngang bằng đối xử với nhau.

Đức Mẹ nói: “Con hãy nói cho mọi người biết không khi nào họ là con người cho bằng khi họ quỳ gối trước mặt Thiên Chúa.”

Vị chủ tế đọc lời Thánh Hiến (Truyền Phép). Ngài cao trung bình, nhưng bỗng nhiên, ngài bắt đầu cao lên, tràn ngập ánh sáng, ánh sáng siêu nhiên giữa màu trắng và hoàng kim bao phủ ngài và tăng cường độ chung quanh mặt ngài. Và vì thế, tôi không thể thấy dáng vóc ngài nữa. Khi ngài dâng Bánh Thánh Thể lên, tôi thấy hai bàn tay ngài, và trên lưng bàn tay ngài, có những dấu vết mà từ đó tỏa ra ánh sáng lớn mạnh. Chính là Chúa Giêsu! Chính là Chúa Đấng phủ Thân Mình Ngài quanh vị chủ tế, như thể Ngài âu yếm bọc lấy đôi bàn tay Đức Tổng Giám Mục. Lúc đó, Bánh Thánh Thể bắt đầu lớn lên và trở thành khổng lồ, và trên đó khuôn mặt lạ lùng của Chúa Giêsu xuất hiện đang nhìn xuống dân của Ngài.

Giây phút đó, tôi muốn cúi đầu (thờ lạy) thì Đức Mẹ nói: “Con đừng nhìn xuống. Hãy nhìn lên để chiêm ngắm Chúa. Con hãy trao đổi ánh mắt của con với Ngài, và nhắc lại lời nguyện Fátima: Lạy Chúa, con tin, con thờ lạy, con ký thác (trông cậy), và con yêu mến Chúa. Con xin Chúa tha thứ cho những người không tin, không thờ lạy, không trông cậy, và không yêu mến Chúa. Lạy Chúa hay tha thứ và thương xót ... Bây giờ con hãy nói với Chúa con yêu Chúa chừng nào, và dâng hiến thờ lạy Vua các Vua.”

Tôi dâng lên Chúa lời nguyện trên, và dường như từ Bánh Thánh Thể khổng lồ Chúa chỉ nhìn một mình tôi, Nhưng tôi học được rằng đây là cách Chúa nhìn mỗi người, với tình yêu tràn đầy. Rồi tôi cúi đầu xuống cho tới khi trán chạm đất, giống như các Thiên Thần và các Thánh trên Thiên Đàng. Có lẽ trong một phần giây đồng hồ, tôi ngỡ ngàng không biết cách nào Chúa Giêsu nhập vào thân xác vị chủ tế và, đồng thời, Chúa ở trong Bánh Thánh Thể. Và khi vị chủ tế đặt Bánh Thánh Thể xuống, thì Bánh Thánh Thể trở lại kích thước bình thường. Nước mắt tràn xuống hai bên má tôi; tôi không thể không ngỡ ngàng được.

Lập tức, Đức Tổng Giám Mục đọc lời Thánh Hiến (Truyền Phép) rượu và, khi những lời đang được xướng lên, ánh chớp từ thiên đàng và từ phía sau lóe lên. Các bức tường và trần nhà của thánh đường biến mất. Tất cả đều tối đen, ngoại trừ ánh sáng chói chang từ Bàn Thờ.

Thình lình, tôi thấy Chúa Giêsu trên thánh giá lơ lửng trên không trung. Tôi thấy từ đầu đến phần trên ngực Chúa. Cánh ngang Thánh Giá được đỡ lên bởi hai bàn tay lớn mạnh. Từ bên trong ánh sáng huy hoàng, luồng ánh sáng nhỏ, tựa như chim bồ câu rất nhỏ, rất chói sáng, tiến ra bay rất nhanh khắp Thánh Đường. Ánh sáng đó đậu trên vai bên trái Đức Tổng Giám Mục, ngài tiếp tục xuất hiện như Chúa Giêsu vì tôi có thể nhận ra rõ mái tóc dài của Chúa, những dấu thánh chiếu sáng và thân thể vạm vỡ của Chúa, nhưng tôi không thể nhìn được Gương Mặt Cực Thánh của Chúa.

Phía trên là Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Tôi có thể chiêm ngắm gương mặt, hai cánh tay bầm dập và da thịt nát bấy của Chúa. Phía bên phải ngực Chúa có thương tích, máu tuôn về phía cạnh bên trái, và về phía bên phải thì thứ gì tựa như nước, nhưng rất sáng chói. Máu và nước tựa như những tia nước mạnh bằng ánh sáng tuôn ra hướng vào phía các tín hữu, tràn qua bên phải và bên trái. Tôi ngỡ ngàng về số lượng máu tuôn chảy vào Chén Thánh. Tôi nghĩ máu đó tràn ngập chan hòa khắp Bàn Thờ, nhưng không một giọt nào rơi ra ngoài.

Giây phút đó, Đức Mẹ nói: “Đây là phép lạ của những phép lạ. Mẹ đã nói với con trước kia rằng Chúa không bị giới hạn bởi thời gian và không gian. Vào giây phút Truyền Phép (Thánh Hiến Bánh Rượu), toàn thể cộng đoàn được đem tới đồi Calvary, vào giây phút Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào thánh giá.”

Có ai hình dung được điều đó? Mắt chúng ta không thể thấy, nhưng tất cả chúng ta đều ở đó vào chính giây phút lý hình đóng đinh Chúa vào thánh giá. Và Chúa đang xin Chúa Cha tha thứ, không chỉ riêng cho những kẻ giết Chúa, nhưng cũng (xin tha thứ) cho tội lỗi mỗi người chúng ta: “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm.”

Từ ngày đó (trở đi), tôi bất kể nếu như cả thế giới đều cho rằng tôi khùng, nhưng tôi xin mọi người quỳ gối xuống và cố gắng, với trái tim mình và với tất cả cảm giác mà họ có thể, sống đặc ân này (tham dự Thánh Lễ) Chúa ban cho chúng ta.

Khi chúng tôi sắp sửa cầu nguyện Kinh Lạy Cha, lần đầu tiên trong buổi lễ, Chúa nói: “Chờ chút, Cha muốn con cầu nguyện với lòng khiêm tốn sâu thẳm nhất con có thể. Giây phút này, con hãy nhớ đến người nào đó hoặc những người đã làm tổn thương con nặng nề nhất trong đời con, để con có thể ôm ấp những người đó vào lòng con, và với hết lòng con hãy nói với họ: ‘Nhân danh Chúa Giêsu, tôi tha thứ cho anh (chị, ...) và nguyện chúc anh (chị, ...) được bình an. Nhân danh Chúa Giêsu, tôi xin anh (chị,...) tha thứ và chúc lành cho tôi.’ Nếu người đó đáng hưởng sự bình an, thì người đó nhận được, và cảm thấy được hưởng sự bình an. Nếu người đó không thể mở lòng đón nhận sự bình an, thì sự bình an đó trở lại trái tim con. Nhưng Cha không muốn con nhận, cũng không chúc bình an, khi con không thể tha thứ và cảm thấy bình an trong trái tim con trước nhất.

Chúa nói tiếp: “Con hãy cẩn thận đối những việc con làm, con nhắc lại trong kinh Lạy Cha: xin (Cha) tha tội chúng con như chúng con tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng con. Nếu con có thể tha thứ nhưng không thể quên, như một số người nói, con đặt điều kiện trên sự tha thứ của Thiên Chúa. Con nói: Cha tha thứ cho con chỉ vì con có thể tha thứ, nhưng chỉ bấy nhiêu thôi.”

Tôi không biết cách nào giãi bày sự đau đớn của tôi, khi ý thức rằng chúng ta có thể làm đau lòng Chúa biết chừng nào. Và cũng biết bao nhiêu chúng ta tự làm tổn thương chính mình vì ôm ấp quá nhiều ghen ghét (bực bội), ác cảm và những thứ xấu xa nảy sinh từ thành kiến và quá tự ái của chúng ta. Tôi đã tha thứ; tôi đã thực tâm tha thứ, và xin những người bị tôi xúc phạm (làm hại) tha thứ, để cảm nghiệm sự bình an của Chúa.

Vị chủ tế cầu nguyện, “... xin (Chúa) ban cho chúng con sự bình an và hiệp nhất ...” kế đến là “sự bình an của Chúa ở cùng tất cả anh chị em.”

Thình lình, tôi thấy một số (không phải tất cả) những người đang ôm hôn chúc lành, một làn ánh sáng rất mạnh ở giữa những người đó. Tôi biết đó là Chúa Giêsu, và tôi đã thực tâm ôm hôn người bên cạnh. Tôi có thể thực sự cảm nghiệm sự ôm hôn của Chúa trong ánh sáng đó. Chính Chúa ôm hôn và ban cho tôi sự bình an của Ngài, vì giây phút đó, tôi (đã) có thể tha thứ và đẩy ra khỏi trái tim tất cả mọi bực bội đối với người khác. Đó chính là điều Chúa Giêsu muốn, chia sẻ giây phút hân hoan đó, ôm hôn chúng ta và chúc bình an của Ngài cho chúng ta.

Đã tới lúc vị chủ tế rước Mình Thánh Chúa. Tôi lại nhận thấy sự hiện diện của toàn thể linh mục kế bên Đức Tổng Giám Mục. Khi Đức Tổng GM rước Lễ, Đức Mẹ nói:

“Giây phút này là lúc cầu nguyện cho vị chủ tế và các linh mục đồng tế với ngài. Con hãy nhắc lại cùng với Mẹ: ‘Lạy Chúa, xin Chúa chúc lành cho các ngài, thánh hóa các ngài, giúp đỡ các ngài, thanh tẩy các ngài, yêu thương các ngài, săn sóc các ngài, và nâng đỡ các ngài bằng Tình Yêu của Chúa. Con hãy nhớ tất cả các linh mục khắp hoàn cầu, cầu nguyện cho các linh hồn đã được thánh hiến ...”

Thưa quí anh chị em, đó là giây phút chúng ta cần cầu nguyện cho các linh mục (hàng giáo phẩm) vì các ngài là Giáo Hội cũng như chúng ta, các tín hữu (giáo dân) là Giáo Hội. Nhiều lần chúng ta, giáo dân, đòi hỏi quá nhiều nơi các linh mục, nhưng chúng ta lại không thể cầu nguyện cho các ngài, hiểu biết rằng các ngài cũng là con người, thông cảm và coi trọng sự cô đơn rất nhiều khi các linh mục gặp phải.

Chúng ta cần hiểu các linh mục là người như chúng ta và các ngài cần được thông cảm và giúp đỡ. Các ngài cần được chúng ta quí mến và chăm sóc vì các ngài đã tận hiến cuộc đời cho từng người chúng ta, như Chúa Giêsu đã tận hiến, bởi được thánh hiến cho Ngài.

Chúa muốn dân trong đoàn chiên mà Thiên Chúa ký thác cho linh mục hãy cầu nguyện và giúp đỡ sự thánh hiến của linh mục đó. Ngày nào đó, khi chúng ta ở đời sống bên kia, chúng ta sẽ hiểu những sự lạ lùng Chúa đã làm, khi ban cho chúng ta các linh mục là những người giúp đỡ phần rỗi chúng ta.

Giáo dân bắt đầu lên rước Lễ. Giây phút gặp gỡ trọng đại nhất đã đến. Chúa nói với tôi: “Con chờ chút; Cha muốn con quan sát một chút ...” Ơn thúc đẩy bề trong khiến tôi ngước mắt nhìn lên phía những người sắp sửa há miệng rước Lễ từ tay vị linh mục.

Tôi cần phải thanh minh rằng người này là một trong các bà trong nhóm chúng tôi mà tối hôm trước đã không xưng tội được, nhưng đã xưng tội sáng nay trước Thánh Lễ. Khi Linh Mục đặt Bánh Thánh Thể trên lưỡi bà ấy, một tia chớp, tựa như luồng ánh sáng bạch kim, xuyên thấu toàn thân bà đó, trước tiên suốt lưng, rồi từ lưng vây bọc toàn thân, qua hai vai, rồi đến đầu. Chúa nói:

“Đây là cách Chính Cha hân hoan ấp ủ một linh hồn đón rước Cha mà trái tim thanh sạch.” Giọng nói của Chúa Giêsu là giọng của một người sung sướng hạnh phúc.

Tôi sững sờ thấy bà bạn của tôi trở lại ghế quỳ mà ánh sáng Chúa bao bọc ấp ủ bà. Tôi ngỡ ngàng rằng chúng ta bỏ lỡ quá nhiều lần đến rước Chúa Giêsu mà có mang những lỗi lầm nhỏ hoặc lớn, trong khi việc rước Lễ phải là đại tiệc cực trọng.

Nhiều khi chúng ta nói không có linh mục để vào lúc nào đó đến xưng tội. Nhưng vấn đề không phải là xưng tội mỗi lần, nhưng vấn đề nằm sẵn trong tình trạng chúng ta dễ dàng lại sa vào lỗi lầm. Mặt khác, cũng như khi chúng ta cố gắng tìm đến mỹ viện, hoặc tìm các ông thợ hớt tóc mỗi khi có tiệc tùng, chúng ta cũng phải cố gắng tìm kiếm linh mục khi cần tẩy rửa linh hồn chúng ta. Chúng ta không được phép cả gan (liều lĩnh) rước Chúa Giêsu bất cứ khi nào trái tim (tâm hồn) chúng ta đầy dẫy những điều xấu xa.

Khi tôi lên rước Lễ, Chúa Giêsu bảo tôi: “Tiệc Ly là giây phút hiệp thông thân mật vĩ đại nhất với Chính Cha. Trong giờ yêu thương đó, Cha thiết lập điều có thể bị cho là hành động cao cả tột cùng của sự điên khùng trong mắt người đời, khiến chính Cha trở nên tù nhân của Tình Yêu. Cha đã thiết lập Nhiệm Tích Thánh Thể. Cha muốn ở lại với các con cho tới tận thế vì Tình Yêu của Cha không thể chịu đựng được nếu để các con mồ côi, các con là những người Cha yêu thương hơn sinh mạng Cha.”

Tôi rước Bánh Thánh Thể mà hương vị khác hẳn. Hương vị đó lẫn lộn máu và trầm hương tràn ngập toàn thân tôi. Tôi cảm thấy quá sức yêu mến đến độ nước mắt tuôn tràn xuống hai bên má nhưng tôi không cầm lại được.

Khi trở lại ghế quỳ, Chúa nói: “Con hãy lắng nghe ...” Một lát sau, tôi bắt đầu nghe những lời cầu nguyện của một phụ nữ ngồi ghế trước tôi, bà ấy vừa mới rước Lễ.

Bà âm thầm cầu nguyện đại khái như sau: “Lạy Chúa, xin Chúa nhớ cuối tháng đến rồi mà con không có tiền trả tiền mướn nhà, tiền xe, tiền học của con cái. Chúa cần giúp con ... Xin Chúa vui lòng, cho chồng con hết uống rượu quá nhiều. Con không chịu đựng nổi thêm chút nào nữa anh ấy thường say sưa, và đứa con trai út của con lại không được lên lớp, nếu Chúa không giúp nó. Tuần này nó thi ... Và xin Chúa đừng quên người hàng xóm của chúng con phải đổi chỗ ở. Xin Chúa cho chị ấy đi ngay đi. Con không thể chịu đựng chị ấy thêm chút nào nữa, v.v.”

Kế đến Đức Tổng Giám Mục nói: “Chúng ta hãy cầu nguyện,” và hiển nhiên cả cộng đoàn đứng lên hiệp lời cầu nguyện kết thúc. Chúa Giêsu nói mà giọng buồn buồn: “Con có ghi chép lời chị ấy cầu nguyện không? Không lấy một lần chị ấy nói với Cha rằng chị ấy yêu mến Cha. Không một lần nào chị ấy cám ơn Cha vì hồng ân Cha đã ban cho chị bằng việc ngự vào con người nghèo nàn của chị (đem Thần Tính của Cha đến với nhân tính nghèo hèn của chị), để nâng chị ấy lên tới Cha. Không lấy một lần chị ấy nói: Lạy Chúa, tạ ơn Chúa. Lời cầu nguyện chỉ là chuỗi những yêu cầu, và hầu như tất cả mọi người rước Cha cũng đều cầu xin như thế.”

“Cha đã chết vì yêu, và Cha đã phục sinh. Vì yêu thương, Cha chờ đợi từng người các con, và vì yêu thương Cha ở lại với các con. ... Nhưng các con không ý thức rằng Cha cần tình yêu của các con. Con hãy nhớ Cha là Người Ăn Xin Tình Yêu trong giờ phút cực trọng đối với các linh hồn.”

Tất cả quí bạn có ý thức rằng Chúa, Tình Yêu, đang van xin tình yêu của chúng ta, mà chúng ta lại chẳng trao tặng tình yêu của chúng ta cho Ngài, hay không? Hơn nữa, chúng ta tránh không đến gặp Đấng Tình Yêu của Mọi Tình Yêu, với tình yêu duy nhất tự hiến trong lễ phẩm vĩnh cửu.

Khi vị chủ tế sắp sửa ban phép lành, Đức Mẹ nói: “Con hãy chú ý, cẩn thận ... Con làm thứ dấu gì cũ kỹ thay vì Dấu Thánh Giá. Con hãy nhớ phép lành này có thể là cuối cùng con nhận được từ tay vị linh mục. Con không biết khi nào, khi rời khỏi đây, con sẽ chết hoặc không. Con không biết con có còn cơ hội nhận lãnh phép lành từ linh mục khác nữa không. Những bàn tay được thánh hiến ban phép lành cho con nhân Danh Chúa Ba Ngôi Cực Thánh. Vì thế, con hãy làm Dấu Thánh Giá với lòng kính trọng, chẳng khác gì đó là lần cuối cùng trong đời con.”

Chúng ta bỏ lỡ biết bao vì không hiểu và không tham dự Thánh Lễ hằng ngày! Tại sao lại không cố gắng bắt đầu một ngày sớm hơn nửa giờ để chạy tới tham dự Thánh Lễ và lãnh nhận tất cả mọi ơn lành Chúa muốn tuôn đổ trên chúng ta?

Tôi biết rằng, vì công việc theo phận sự hằng ngày, không phải tất cả mọi người đều có thể tham dự Thánh Lễ ngày thường, nhưng ít ra hai hoặc ba lần mỗi tuần. Quá nhiều người tránh bỏ Lễ Chúa Nhật chỉ với những lý do tối thiểu, rằng họ có con nhỏ, hai đứa, hoặc mười đứa, và, bởi thế, họ không thể tham dự Thánh Lễ. Vậy người ta thu xếp cách nào khi người ta có những thứ việc quan trọng khác? Họ đem theo tất cả con cái, hoặc thay phiên nhau, ông chồng đi vào giờ này và bà vợ đi vào giờ khác, nhưng họ chu toàn được bổn phận đối với Thiên Chúa.

Chúng ta đều có thì giờ học hành, làm việc, giải trí, nghỉ ngơi, nhưng CHÚNG TA KHÔNG CÓ THÌ GIỜ, ÍT RA LÀ CHÚA NHẬT, ĐỂ THAM DỰ THÁNH LỄ.

Chúa Giêsu xin tôi ở nán lại với Ngài một vài phút sau Thánh Lễ. Chúa nói: “Con đừng vội vã ra về ngay sau khi Thánh Lễ xong. Con hãy ở lại một chốc lát với Cha và tận hưởng giây phút đó, và để Cha vui với sự hiện của con ...”

Khi còn nhỏ, tôi nghe nói Chúa ở với chúng ta năm hoặc mười phút sau khi Rước Lễ. Tôi hỏi Chúa về giây phút này:

“Chúa ơi, thực sự, Chúa ở với chúng con bao lâu sau khi chúng con Rước Lễ?”

Tôi nghĩ Chúa hẳn phì cười vì sự ngờ nghệch của tôi, bởi Chúa trả lời: “Tất cả mọi thời gian mà con muốn có Cha ở với con. Nếu con nói với Cha suốt cả ngày, dâng cho Cha một đôi lời trong suốt cả mọi việc (lặt vặt) hằng ngày của con (con nói với Cha một vài lời trong khi con làm mọi việc hàng ngày), Cha sẵn sàng lắng nghe lời con. Cha hằng ở với con. Chính con bỏ Cha. Con rời khỏi Thánh Lễ, thế là bổn phận ngày lễ buộc đã xong (chấm dứt). Con đã giữ ngày của Chúa (Chúa nhật), và bây giờ việc ấy xong rồi đối với con. Con không nghĩ rằng Cha muốn chia sẻ sự sống trong gia đình với con, ít ra là ngày hôm đó, sao?”

“Trong nhà các con (các gia đình), các con có chỗ cho mọi thứ và phòng cho từng sinh hoạt: phòng ngủ, bếp, phòng ăn, v.v. Các con dành chỗ nào cho Cha? Không phải chỉ là chỗ con treo ảnh (tượng) để bụi bám ngày qua tháng lại, nhưng là chỗ mà ít ra năm phút mỗi ngày gia đình tập họp lại để tạ ân vì mọi ơn lành trong ngày và ơn sự sống, cầu xin cho những nhu cầu hăng ngày, xin ơn lành, ơn bảo vệ, ơn sức khỏe. Mọi thứ đều có chỗ trong nhà các con, ngoại trừ Cha.”

“Người ta hoạch định chương trình hằng ngày, hằng tuần, tam cá nguyệt, nghỉ hè, v.v. Họ biết ngày nào họ nghỉ, ngày nào họ đi xinê hoặc tiệc tùng, hoặc thăm viếng bà nội/ngoại hoặc cháu chắt, con cái, bạn bè, và giải trí. Được mấy gia đình ít ra mỗi tháng một lần nói: ‘Hôm nay là ngày đến phiên chúng ta đến Nhà Chầu viếng Chúa trong Phép Thánh Thể,’ và cả gia đình đến truyện trò với Cha? Được mấy người đến ngồi trước mặt và chuyện trò với Cha, nói cho Cha biết mọi việc từ khi viếng Cha lần trước, nói cho Cha biết những vấn đề, những khó khăn họ gặp phải, xin Cha cho những gì họ cần, đặt Cha vào những sự việc hằng ngày của họ? Được mấy lần?

“Cha biết mọi sự. Cha đọc thấy tất cả những bí mật sâu thẳm nhất trong tâm trí các con. Nhưng Cha vui khi thấy các con nói cho Cha biết về cuộc sống của các con, các con để cho Cha tham gia như là thành viên gia đình, như người bạn chí thiết của các con. Oh, con người bỏ mất biết bao ân sủng bởi không dành cho Cha một chỗ trong cuộc đời của họ!”

Tôi ở lại với Chúa hôm đó và nhiều ngày khác, Chúa tiếp tục dạy bảo chúng ta. Hôm nay tôi muốn chia sẻ với quí bạn sứ mệnh Chúa trao cho tôi. Chúa Giêsu nói:

“Cha muốn cứu độ các thụ tạo của Cha, vì giây phút mở cửa Thiên Đàng đã bị bão hòa bởi quá nhiều đau đớn ...” “Con hãy nhớ rằng không hề có bà mẹ nào đã nuôi con bằng chính thịt của mình. Cha đã đi quá mức cực độ Yêu Thương là thông ban mọi công nghiệp của Cha cho tất cả các con.

“Thánh Lễ là Chính Cha kéo dài sự sống của Cha và hiến tế của Cha trên Thánh Giá giữa các con. Nếu không có công nghiệp của Cha và Bửu Huyết của Cha, các con có gì để đem đến trước mặt Thiên Chúa Cha? Không gì hết, chỉ có khốn nạn và tội lỗi ...

“Các con phải vượt hơn các thiên thần và tổng lãnh thiên thần về thánh đức, bởi các vị ấy không được vui hưởng rước Cha làm lương thực như các con được hưởng. Các thiên thần uống từ dòng suối, nhưng các con được đặc ân rước Cha, các con có toàn thể đại dương để mà uống.”

Chúa đau đớn nói về những người rước Chúa theo thói quen, những người mất lòng kính trọng mỗi khi rước Chúa. Thói quen đó khiến nhiều người trở nên ấm ấm họ chẳng có gì mới để nói với Chúa khi họ rước Chúa. Chúa cũng nói rằng có quá nhiều linh hồn được thánh hiến đã mất lòng sốt sắng yêu mến Chúa, và biến ơn gọi của các vị ấy trở nên một thứ nghề nghiệp chuyên môn mà chẳng có gì hơn để hiến dâng, ngoại trừ bổn phận đòi hỏi, mà lại chẳng có cảm giác gì (mà dửng dưng, hững hờ)...

Rồi Chúa nói với tôi về những kết quả phải đến mỗi lần chúng ta Rước Lễ. Điều xảy ra là có nhiều người rước Chúa hằng ngày nhưng đời sống họ không thay đổi. Họ dành nhiều giờ để cầu nguyện và làm nhiều việc, v.v., nhưng cuộc sống của họ không thay đổi, và một đời người mà không thay đổi thì không thể sinh hoa trái đích thực cho Chúa. Những công nghiệp chúng ta nhận được trong Phép Thánh Thể phải sinh hoa trái hoán cải trong chúng ta và hoa trái bác ái đối với anh chị em chúng ta.

Chúng ta, giáo dân, có vai trò rất quan trọng trong Giáo Hội. Chúng ta không có quyền nín thinh, vì Chúa đã gửi chúng ta, với tư cách những người chịu Phép Rửa, đi ra rao giảng Tin Mừng. Chúng ta không có quyền tiêu hóa tất cả những hiểu biết này mà không chia sẻ với người khác, và để cho anh chị em chết đói trong khi trong tay chúng ta có dư thừa bánh.

Chúng ta không thể đứng nhìn Giáo Hội của chúng ta tiêu dần trong khi chúng ta vẫn thoải mái trong giáo xứ và gia đình, đón nhận và đón nhận quá nhiều ơn Chúa: Lời Chúa, những lời giảng huấn từ các linh mục, các cuộc hành hương, Lòng Thương Xót Chúa trong Nhiệm Tích Giao Hòa (Xá Giải), sự kết hiệp lạ lùng với lương thực Thánh Thể, những lời thuyết giảng.

Nói cách khác, chúng ta liên tiếp nhận được quá nhiều mà chúng ta lại không có cam đảm rời khỏi vùng tiện nghi thoải mái để đến nhà giam, viện trừng huấn, đến với những người nghèo khó nhất. Đến và khuyên họ đừng bỏ cuộc, rằng họ sinh ra là tín hữu Công Giáo và Giáo Hội muốn họ ở đó, chịu đau khổ, vì đau khổ sẽ cứu độ họ, vì hy sinh của họ sẽ giành cho họ sự sống vĩnh cửu.

Chúng ta không thể đến với những người nguy tử trong bệnh viện, nhưng bằng cầu nguyện Chuỗi Lòng Thương Xót Chúa, giúp họ bằng lời cầu nguyện của chúng ta trong lúc họ chiến đấu giữa thiện và ác và giải thoát họ khỏi nanh vuốt và cám dỗ của ma quỉ. Mỗi người đang hấp hối đều có sự sợ hãi, chúng ta chỉ cầm tay họ, nói với họ về tình yêu Thiên Chúa và những sự lạ lùng đang chờ đợi họ trên Thiên Đàng bên Chúa Giêsu và Mẹ Maria, bên cạnh những người thân yêu đã ra đi trước, đem lại cho họ sự an ủi.

Giờ phút chúng ta đang sống không cho phép chúng ta hững hờ. Tất cả chúng ta phải là bàn tay nối dài của các linh mục và đến bất cứ nơi nào các ngài không thể đến. Tuy nhiên để làm việc này, chúng ta cần can đảm. Chúng ta cần phải rước Chúa Giêsu, sống với Chúa Giêsu, nuôi dưỡng chúng ta bằng chính Chúa Giêus.

Chúng ta sợ không dám dấn thân thêm chút nữa, và khi Chúa nói, “Trước hết các con hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa, và mọi thứ khác sẽ được ban cho các con.” Chúa nói điều đó với tất cả mọi người, anh chị em. Lời Chúa nói trên có nghĩa là bằng mọi phương cách có thể phải tìm kiếm Nước Thiên Chúa, và rộng mở đôi bàn tay để đón nhận MỌI SỰ được ban cho! Bởi Chúa là Chúa Tể, Ngài trả lại cho chẳng những đầy đủ mà còn dư thừa nhất, bởi chỉ một mình Ngài là Đấng chăm sóc mọi nhu cầu nhỏ nhặt nhất của anh chị.

Thưa quí anh chị, xin cám ơn quí anh chị đã cho phép chúng tôi thi hành sứ mệnh Chúa ký thác cho chúng tôi, gửi những trang này tới quí anh chị. Lần sau khi anh chị tham dự Thánh Lễ, xin sống lời Chúa và Mẹ Maria trong thông điệp này. Chúng tôi biết Chúa sẽ hoàn tất lời Ngài hứa với anh chị rằng “Thánh Lễ các con tham dự sẽ không khi nào lại nhạt nhẽo như trước nữa.” Khi anh chị rước Chúa, xin anh chị hãy yêu mến Ngài.

Anh chị hãy sống cảm giác ngọt ngào dựa đầu vào thương tích nơi cạnh sườn Ngài, đã bị đâm thủng vì anh chị, để lại cho anh chị Giáo Hội và Thánh Mẫu của Chúa, mở cho anh chị cửa Nhà Thiên Chúa Cha của Ngài. Anh chị hãy cảm nghiệm điều này ngõ hầu có thể cảm thấy được Tình Yêu Thương Xót của Ngài qua lời chứng này, và cố gắng hòa hợp với tình yêu như trẻ thơ (của anh chị).

Xin Thiên Chúa chúc lành cho anh chị trong Mùa Phục Sinh này.

Em gái của anh chị trong Thiên Chúa hằng sống.

Catalina Rives

Lay Missionary of the Eucharistic Heart of Jesus.

NN LÂN chuyển ngữ từ “THE HOLY MASS, Explained to Catalina by Jesus