Thứ Bảy, 26 tháng 6, 2010

Linh Mục Trương Bửu Diệp













IMGCENTER=http://files.myopera.com/haccao/blog/CS0.8392357_1_1.jpg] /blog/92106-medium_NVHN-090314-TruongBuuDiep-02.jpg]

Mộ phần linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp được di dời tới một nơi mới khang trang hơn trong một nghi thức trọng thể ngày 4 tháng 3 năm 2010, với sự chủ tọa của Ðức Cha Stêphanô phó Giáo Phận Cần Thơ, các cha Hạt Bạc Liêu và một số cha khách.

Ðịa điểm mới cũng tọa lạc trong khuôn viên Nhà thờ Tắc Sậy.

Linh Mục Trương Bửu Diệp bị giết chết ngày 12 tháng 3, 1946 và ném xác xuống ao vì ngài nhất quyết sống chết cùng với con chiên, bất chất các sự nguy hiểm, đe dọa đến thân mạng.

Khi sống, ngài là gương sáng của một vị chủ chăn và khi chết ngài rất hiển linh, nhiều người cầu xin ơn lành và tránh các điều tai ương đã được ban phát. Lời truyền rao phép lành tạo niềm tin nơi mọi người, cùng tôn kính Linh Mục Trương Bửu Diệp. Bởi vậy, hàng năm, thánh lễ cầu nguyện cho ngài được tổ chức khắp nơi, không phải chỉ ở Tắc Sậy.
Theo một bài viết trên trang điện tử www.nhunghatmammoi.net, đối với hàng ngàn người Việt Nam không phân biệt tôn giáo, Linh Mục Trương Bửu Diệp là một vị ân nhân đã ban nhiều ơn lành, phép lạ cho họ trong những giờ phút thập tử nhất sinh.

Linh Mục Trương Bửu Diệp sinh ngày mùng 1 tháng 1, năm 1897, tại Cồn Phước, tỉnh An Giang. Năm Linh Mục Diệp lên 7 tuổi, gia đình sống tại Batambang, Cam Bốt. Ðến năm 1909, ngài được Linh Mục Phêrô Lê Huỳnh Tiền đỡ đầu cho vào tiểu chủng viện xã Tấn Phước, tỉnh An Giang, Sau thời gian Tiểu Chủng Viện, ngài học tại Ðại Chủng Viện Nam Vang và thụ phong linh mục năm 1924 tại Nam Vang. Ba năm sau đó Linh Mục Trương Bửu Diệp làm linh mục phó tá họ đạo Hố Trư, của Người Việt tại Cam bốt. Năm 1927-1929, ngài về mục vụ tại Tiểu Chủng Viện Cù Lao Giêng. Năm 1930, ngài về nhận họ đạo Tắc Sậy

Năm 1946, giữa thời buổi loạn lạc, xã hội nhiễu nhương, đa số bà con dân làng đi tản cư, ngài vẫn cương quyết không bỏ giáo xứ mà đi. Ngày 12 tháng 3, năm 1946, ngài bị bắt nhốt chung với 70 giáo dân xứ Tắc Sậy. Các giáo phái xung đột tranh chấp, cha Trương Bửu Diệp hiên ngang bênh vực quyền lợi cho các giáo dân, ngài đã chịu chết thay cho những người bị nhốt chung.

Ngài đã chết tử vì đạo ngày 12 tháng 3, năm 1946, nhằm ngày mồng 9 tháng 2, năm Bính Tuất. Xác Thánh của ngài được chôn cất tại họ đạo Tắc Sậy tỉnh Minh Hải, giáo phận Cần Thơ. Và ngày nay, ngôi mộ của ngài là một cao điểm hành hương, không những cho người Công Giáo mà cho cả đồng bào bên lương.

Người ta” được nhiều phép lạ” chữa bệnh tật. Trên phần mộ, dưới bóng cây Thập Giá, người ta đem nhiều lễ vật đến tạ ơn biến thành “ngôi mộ đầy hương hoa”. Họ đạo Tắc Sậy ngày nay đã trở nên trung tâm hành hương với một ngôi thánh đường bằng gạch khang trang.

Người trong họ đạo kể rằng: Sau khi chúng chặt đầu người quẳng xuống ao, vị tử đạo về báo mộng cho ông trùm biết nơi quăng xác và giáo dân đem về chôn cất tử tế. Họ đạo nghèo thế mà ngày nay có một ngôi nhà thờ bằng gạch khang trang. Ðó cũng là công ơn của cha sở họ đạo. Số là một ngày kia,ông chủ lò gạch địa phương, ngoại giáo, cho chở đến cho Cha Sở mới rất nhiều xe gạch, nói là để xây cất nhà thờ. Cha Sở ngạc nhiên cho biết họ đạo nghèo làm sao thanh toán được số tiền. Ông chủ lò gạch nhìn lên di ảnh Cha Trương Bửu Diệp treo trên vách tường và nói: Ông Cha này đã trả tiền mua gạch rồi. Nhà thờ bằng gạch được xây lên khang trang nhờ công ơn vị tử đạo năm 1946 đã hy sinh mạng sống vì đoàn chiên.

Ngài bị giết thảm thương trong lúc rao giảng lời Chúa. Cái chết tức tưởi của ngài đã hiển linh. Nhiều người nhân danh Linh Mục Trương Bửu Diệp cầu xin Chúa cứu chữa, như ngài đã che chở cho 70 giáo dân của ngài. Họ nhận được những ơn lành và tránh khỏi nhiều điều tai ương. Từ đó lời truyền rao tạo niềm tin nơi mọi người, cùng tôn kính Linh Mục Trương Bửu Diệp.

Trong trang sử đẫm máu Giáo Hội Việt Nam còn thêm một vị anh hùng: Linh Mục Phanxico Trương Bửu Diệp.

Thứ Năm, 17 tháng 6, 2010

Những Chiến Sĩ Can Trường



Kỷ niệm năm thứ 22 ngày phong Hiển Thánh 117 vị Chân Phước Tử Vì Đạo Việt nam (19/6/1988 - 19/6/2010)

Họ là bậc anh hùng trung liệt với Đức Tin vĩ đại, niềm tin siêu việt vào Đức Kitô, sĩ khí trung kiên với Đạo Chúa, khí phách anh hùng tuyên xưng Đức Tin, chẳng nao núng trước cực hình hay gươm đao.

Họ gồm tám (8) vị Giám mục, năm mươi (50) Linh mục, mười lăm (15) Thầy giảng và Chủng sinh, bốn mươi bốn (44) Giáo dân chịu Tử Vì Đạo dưới các hình án: 76 vị trảm đầu, 21 vị bị thắt cổ chết, 9 vị chết rũ tù, 6 vị bị thiêu sống, 5 vị bị chặt từng khúc rồi băm nát. Họ đã được phong hiển thánh `Tử Vì Đạo`vào ngày 19-6-1988. Họ còn là trên một trăm ngàn (100.000) giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân bị Văn thân thảm sát vào năm 1885.

Họ chịu tử vì đạo dưới nhiều nhục hình và khổ hình như: chùy, trượng hình, đồ hình, lưu hình, tử hình.
- Chùy : Đánh bằng roi. Gồm 5 bậc, từ 10 đến 50 roi.
- Trượng hình: Đánh bằng hèo, gậy (trượng đả), gồm 5 bậc: 50 đến 100 gậy.
- Đồ hình: Giam cầm và bắt làm khổ dịch, gồm 3 bậc:
Đồ làm dịch đinh: đinh phu khuân vác.
Đồ làm lính chuồng voi ngựa : làm vệ sinh chuồng voi, ngựa.
Đồ làm phu đồn điền : phá rừng, vỡ đất, ruộng.

Với các hạn: 1 năm kèm 60 gậy, 2 năm kèm 90 gậy, 3 năm kèm 100 gậy.
- Lưu hình: Phạt đày đi xa nhà, gồm 3 bậc:
+ Lưu cận châu (gần làng) kèm 100 gậy
+ Lưu viễn châu (xa xứ) kèm 100 gậy. |
+ Lưu ngoại châu (ngoài vùng) kèm 100 gậy.
- Tử hình: tội chết, gồm 3 bậc:
+ Xử giảo: thắt cổ chết.
+ Xử trảm: chém đầu. Trảm khiêu: chém bêu đầu 3 ngày.
+ Lăng trì (Tùng xẻo): xẻo đủ 100 miếng thịt của tội nhân, theo thứ tự từ trán, má, miệng, cổ, ngực, bụng, tay, chân..., cứ mỗi tiếng trống đao phủ cắt một miếng thịt.

Những tội hình trên được qui định trong bộ Hoàng Triều Luật thường gọi là luật Gia Long, ban hành năm 1815. Bộ luật nầy lấy theo luật cũ đời Hồng Đức nhà Lê năm 1433, rồi châm chước với luật nhà Mãn Thanh (Trung Hoa).

Ngoài các khổ hình nói trên, còn có các hình phạt khác như :
- Giam đói đến chết rũ tù.
- Gông: hình cụ hình thang bằng tre hay gỗ, dài khoảng 2 mét, đeo vào cổ tội nhân.
- Cùm: hình cụ bằng 2 tấm gỗ ghép lại, có khoét 2 lỗ để kẹp chân tội nhân.
- Xiềng: xích lớn có vòng sắt ở 2 đầu để khóa chân tay tội nhân.
- Kềm (kìm): đồ dùng bằng sắt có 2 càng để kẹp chặt.
+ Có 2 cách: Kềm nguội: dùng kềm kẹp thịt tội nhân. Rất đau.
+ Kềm nóng: đốt lò nung kềm đỏ nóng, kẹp thịt tội nhân cháy.
- Tẩm dầu đốt: dùng vải cuốn vào đầu 10 ngón tay, tẩm dầu, đốt.
- Quì bàn chông: bắt tội nhân quì lên tấm ván có đóng nhiều đinh ngược.
-
Đổ dầu vào rốn có tim bấc, đốt lên như ngọn đèn dầu.
- Voi chà: voi dùng vòi quật tội nhân xuống rồi giẫm đạp lên xác tội nhân.
-
Ngựa xé: cột mỗi tay mỗi chân vào mỗi sợi dây, cho 4 con ngựa kéo chạy 4 hướng, xé xác tội nhân ra nhiều mảnh.

Các tội hình trên được áp dụng chung cho các tội nhân, kể cả tội theo đạo Công giáo.

Phân sáp (Phân tháp): Riêng tội nhân công giáo còn chịu thêm hình phạt phân sáp được vua Tự Đức ban hành sắc dụ năm 1860, chủ ý phân tán người công giáo ra khỏi quê hương bản quán rồi sáp nhập họ vào các làng lương.

Việt Nam Giáo sử đã ghi lại các khoản chính như sau:
Khoản 1: Tất cả những người mang tên Công giáo, đàn ông, đàn bà, già trẻ, khó nghèo hay giàu sang đều phải tản mác sang các làng bên lương.
Khoản 2: Tất cả các làng bên lương đều có trách nhiệm canh giữ những người công giáo, cứ 5 người lương giữ 1 người công giáo.
Khoản 3: Tất cả các làng công giáo đều phải phá hủy, ruộng đất, vườn tược, nhà cửa sẽ chia cho các làng lân cận, những làng nầy phải chịu thuế về ruộng đất mình lãnh.
Khoản 4: Phải chia rẽ người đàn ông công giáo và người đàn bà công giáo. Các người đàn ông sẽ được gửi đi trong một tỉnh và các người đàn bà trong tỉnh khác, để chúng không còn có thể sum họp. Con cái sẽ phân tán cho các gia đình lương nuôi.
Khoản 5: Trước lúc tản mác phải khắc 2 chữ “Tả Đạo” vào má của người đàn ông đàn bà, con trẻ công giáo và cũng khắc tên tổng và huyện chúng phải đày tới, ngõ hầu chúng không trốn tránh được.

Cái tình cảnh giáo hữu Việt nam từ trước đã thê thảm thì bây giờ lại càng thêm tang tóc.

Dụ vừa ban ra, mọi người có đạo đều rụng rời chân tay. Đâu đấy vang lên những lời than vãn vô cùng bi đát: ” Chớ gì vua giết chúng tôi ngay đi cho xong! Chúng tôi thà chết mà chẳng thà sống khốn nạn, sống nhục nhã dường ấy!”. Vua quan cả nước đồng tâm làm khốn người Công giáo trăm đường nghìn cách không thể tả ra cho hết được.

Đang khi mọi nơi, các nhà cửa của kẻ có đạo phải thiêu đốt cháy ngùn ngụt, thì ở huyện lỵ, phủ lỵ, tỉnh lỵ hay các nơi lưu đồ, các quan truyền làm hàng trăm nhà tù nhà giam.....người Công giáo từng nghìn, từng vạn lũ lượt kéo nhau lên rừng lên núi hay chui rúc xuống thuyền, hay bị điệu vào tù đóng gông, cùm, xiềng xích hay bị đày lên rừng xanh sống cuộc đời khổ ải. (ngưng trích Việt nam Giáo sử).

(Trong thời bắt đạo, một số giáo dân Việt nam đã trốn thoát sang Lào và Thái lan. Số lánh nạn tại Thái lan đã góp phần xây dựng nên Giáo phận Chantabury hiện nay ở Thái lan).

Chiếu chỉ phân tháp của vua Tự Đức nhằm mục đích làm tan rã các gia đình công giáo, chồng một nơi vợ một ngã, con cái chia lìa khỏi cha mẹ.

Bị phân đến các làng lương để quản thúc quản chế, người Công giáo phải bị giam lỏng, ăn đói, ngủ ngoài vườn, trên đất, trong chuồng trâu bò. Có nơi lại lùa giáo dân vào giam trong các chuồng rộng lớn, trống trải, không mái che, không tường chắn gió, trời nắng thì nằm trên đất khô, mưa thì nằm trên vũng bùn, sống như súc vật. Giáo dân phân sáp nào tỏ ra ương ngạnh thì vua cho phép thắt cổ chết ngay. Tất cả tài sản, từ ruộng đất, vườn tược, trâu bò, heo gà đều bị tịch thu, nhà cửa cái tốt thì tháo dỡ, các xoàng thì đốt cháy. Chính sách phân tháp của vua Tự Đức, một chính sách nham hiểm, ác độc nhằm tiêu diệt tận gốc tiệt nòi các gia đình theo đạo Công giáo.

Ác tâm của các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức không chỉ gieo rắc khủng khiếp tàn bạo cho người Công giáo Việt nam, con dân của vua, mà còn mang lại hậu quả “ác giả ác báo” cho chính triều đình Nhà Nguyễn qua vụ “Tứ nguyệt Tam Vương” (bốn tháng ba vua) do hai Phụ chính Đại thần Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết khuynh loát triều đình như sau:

Vua Tự Đức không con, lập di chiếu chọn Ưng Chân con Thụy Thái Vương nối ngôi và cho gọi ba vị Phụ chính Đại thần Trần Tiển Thành, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn văn Tường vào để ký thác tự quân. Ngày 16-7-1883 vua Tự Đức băng hà. Ngày 19-7-1883 làm lễ tấn phong Ưng Chân lên ngôi, hiệu là Dục Đức. Ba ngày sau đó, hai ông Tường và Thưyết phế vua Dục Đức, bắt giam vào ngục, bỏ đói đến chết. Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết tôn em ruột vua Tự Đức là Hồng Dật lên làm vua, hiệu là Hiệp Hòa vào ngày 30-7-1883. Vua Hiệp Hòa thấy hai ông Tường và Thuyết lộng hành, lấn át triều đình nên bí mật tìm cách loại bỏ hai ông. Việc bị lộ, hai ông Tường và Thuyết sai người giết vua Hiệp Hòa vào đêm 29-11-1883. Giết xong Hiệp Hòa, hai ông Tường và Thuyết tôn người con nuôi thứ ba của vua Tự Đức là Kiến Phườc lên làm vua ngày 3-11-1883. Kiến Phước làm vua được 8 tháng thì mất, nghi là bị đầu độc. Hai ông đưa Ưng Lịch 14 tuổi lên làm vua vào ngày 1-8-1884, hiệu là Hàm Nghi. Nhà vua còn nhỏ, chỉ ngồi làm vì. Quan Phụ chính Đại thần Trần tiển Thành bị bức tử, quan ngự sử Phan đình Phùng bị bắt trói, hạ ngục, các quan trong triều đều khiếp sợ không dám hó hé nửa lời. Mọi việc triều chính đều do hai ông Nguyễn văn Tường và Tôn thất Thuyết định đoạt.

Đêm 4 tháng 7 năm 1885, lợi dụng lúc lính Pháp tổ chức dạ tiệc, ông Tôn thất Thuyết cho lệnh tấn công đốt cháy Tòa Khâm, đánh vào đồn Mang cá, nhiều quan binh Pháp chết. Đến gần sáng, quân Pháp mới củng cố được để phản công. Quân ta kháng cự mạnh mẽ nhưng vì khí giới kém nên rút lui và tan rã dần. Ông Nguyễn văn Tường ra đầu thú Pháp. Ông Tôn thất Thuyết giục vua Hàm Nghi xuất sơn. Đưa vua ra Tân Sở thuộc huyện Cam lộ tỉnh Quảng trị. Tại đây, ông Tôn thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi ra chiếu thư gọi là “Hịch Cần Vương” hô hào cả nước chống giặc Pháp và bài trừ giáo dân Công giáo.

Hịch được ban ra, lập tức Văn thân nổi lên lùng sục, chém giết, cướp của, đốt nhà của người có đạo Công giáo khắp cả nước. Nặng nhất là tại tỉnh Quảng trị, nơi Tôn thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi đến tạm trú tại Tân sở thuộc huyện Cam lộ trước khi tới căn cứ địa Ấu sơn thuộc tỉnh Hà tĩnh. Văn thân tàn sát người theo đạo Công giáo bắt đầu ngày 6-9-1885 và chấm dứt vào tháng 10-1885, khi chính quyền lần lượt vãn hồi an ninh, tái lập trật tự.

Số 8585 tín hữu Công giáo tỉnh Quảng trị bị Văn thân tàn sát được kê như sau: Giáo hạt Đất Đỏ miền Cửa Tùng huyện Vĩnh linh 1666 người; Giáo hạt Bái Trời huyện Gio linh 2013 người; Giáo hạt Dinh Cát huyện Triệu phong 4642 người; Giáo hạt Thanh Hương 264 người. Trên toàn quốc có trên 100.000 tín hữu bị tàn sát.

Qua các thời kỳ bắt đạo, khởi từ ngày 16-7-1645, 3 vị “Tử Vì Đạo” tiên khởi là Thầy An-rê quê ở Phú yên, Thầy Inhaxô quê ở Liêm công, Quảng trị và Thầy Vinh-sơn. Cả 3 Thầy Giảng bị xử Tử Vì Đạo dưới thời chúa Nguyễn phúc Lan (1635-1648). Sau đó là những chuỗi ngày thống khổ mà các tín hữu Công giáo chịu oan nghiệt liên tiếp dưới các triều đại Cảnh Thịnh (Tây sơn), Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và Văn thân. Người Công giáo Việt nam dù có chứng minh được lòng trung quân ái quốc của mình qua việc làm hay bằng lời nói, vua quan vẫn hành hạ và hành hình người có đạo. Các ông Lê đăng Thị, Tống viết Bường là đội trưởng và một số binh sĩ trong đội quân của triều đình đã tuyên bố "Chúng tôi sẵn sàng đi đánh Tây, nhưng không bỏ đạo”, vua quan vẫn ra lệnh xử tử hình. Đến như linh mục Nguyễn ngọc Tuyên từng được vua Tự Đức bổ nhiệm làm Tham Biện Thương chánh Hải phòng, cũng bị Văn thân giết tại Dương lộc, Quảng trị.

Các tín hữu Công giáo là những người dân hiền lành, họ cũng trọng Nho, hiếu với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, trân quý gia phong gia đạo, tuân theo tam tòng tứ đức, trung quân ái quốc, họ cùng với toàn dân cả nước từng chống xâm lăng Trung hoa, Mông cổ, Chiêm thành, Xiêm la (Thái lan), họ tuân giữ luật nước phép vua, lệ làng, v.v... Cũng có người đi lính đánh giặc giữ nước bảo vệ ngai vàng của vua. Cũng có người ra làm quan giúp nước. Nói chung, tín hữu Công giáo Việt nam thời ấy là những công dân tốt, hữu ích cho đất nước, cho xã hội, thế mà họ lại bị vua quan tịch thu hết tài sản, bắt bớ, tù đày, chém giết. Kẻ còn sống sót thì bị phân sáp để triệt tiêu diệt chủng nòi giống Công giáo.

Hành hạ, tàn sát đến mức tàn nhẫn khủng khiếp như vậy, vua quan ta chỉ mong người tín hữu công giáo nói hai chữ “Bỏ Đạo” hay một hành vi đơn giản “Bước qua Thánh Giá” là sẽ khỏi bị chém giết, được an thân, bảo toàn tính mạng, trả lại tài sản. Nhưng các tín hữu vẫn trung kiên với Đức Tin, cam chịu khổ hình, can trường làm Chứng Nhân Đức Ki-Tô. Họ xứng đáng là bậc “Anh Hùng Trung Liệt Tử Vì Đạo”.

“Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con và bởi ghét Thầy, họ vu khống các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời”. (Lời Đức Kitô, theo Phúc âm thánh Mathêu).

Trong suốt 250 năm bị khổ nạn, có trên 100.000 giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân bị “Tử Vì Đạo” (VNGS). Giáo hội Công Giáo Hoàn Vũ đã dành ngày 24 tháng 11 hằng năm để kính nhớ các vị “Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam” nói chung. Cách riêng, vào ngày 19-6-1988, tại giáo đô Vatican, Giáo Hội đã phong Hiển Thánh cho 117 vị Chân Phước Tử Vì Đạo gồm 8 Giám mục, 50 Linh mục, 15 Tu sĩ và 44 Giáo dân đã chịu các hình án: 76 vị bị trảm đầu (chém đầu), 21 vị bị thắt cổ chết, 9 vị bị tra tấn tàn bạo và chết rũ tù, 6 vị bị thiêu sống, 5 vị bị phân thây, chặt từng khúc.

Các ngài khi sống đã bị bắt bớ, tù đày, tra tấn, chém giết, đã chết hàng trăm năm qua mà nay việc phong thánh các ngài còn bị làm khó dễ....

Ngày 2 tháng 3 năm 1988, Hội đồng Giám mục Việt nam đã họp phiên bất thường, nhất trí lập trường 3 không: “Không hoản ngày lễ phong thánh; Không chia cắt danh sách 117 vị Tử Vì Đạo; Không xin đi Rôma dự lễ phong thánh”.

Ngày 19 tháng 6 năm 1988, trên 30 ngàn tín hữu công giáo, trong đó có 10 ngàn người Việt hải ngoại đã tề tựu tại công trường Thánh Phê-rô để tham dự thánh lễ do Đức Giáo Hoàng Gioan Phao lô 2 chủ tế đại lễ phong “Hiển Thánh cho 117 vị Chân Phước Tử Vì Đạo Việt Nam”. Kể từ đây, Giáo hội Công giáo Hoàn Vũ dành ngày 24 tháng 11 hằng năm để kính nhớ tất cả các vị “Thánh Tử Vì Đạo Việt Nam”.

Trong số các vua khét tiếng bắt đạo, thì triều Tây sơn có vua Cảnh Thịnh (1782-1802), còn triều Nhà Nguyễn 9 chúa 13 vua thì có chúa Nguyễn phúc Lan (1635-1648), vua Minh Mạng (1820-1840), vua Thiệu Trị (1840-1847), vua Tự Đức (1847-1883). Nhưng lại có 3 vua Nhà Nguyễn theo đạo Công giáo: Vua Khải Định được cụ Nguyễn hữu Bài giúp chịu phép Thánh Tẩy trước khi băng hà vào năm 1925, Vua Thành Thái được cụ Ngô đình Diệm giúp gia nhập Đạo Chúa trước khi chết vào năm 1954, Vua Bảo Đại đã chịu phép Thánh Tẩy gia nhập đạo Công giáo vào ngày 17-4-1988, hai tháng trước ngày tuyên phong Hiển Thánh 117 vị Tử Vì Đạo. Ngày 24 tháng 6 năm 1995, cựu hoàng Bảo Đại và phu nhân đã đến Vatican tham dự thánh lễ do Đức Giáo hoàng Gioan Phao lộ 2 chủ tế trong một nhà nguyện nhỏ. Sau thánh lễ, Đức Thánh Cha đã tiếp 2 vị tại phòng khách. Cựu Hoàng 82 tuổi vẫn khỏe mạnh và minh mẫn, nắm tay Đức Thánh Cha hồi lâu, tỏ vẻ xúc động....

Montréal, Juin 2010

Thứ Hai, 14 tháng 6, 2010

World Cup 2010


Dành cho những ai HÂM MỘ BÓNG ĐÁ !

Hãy Click vào cái link dưới đây… rồi chỉ cần chỉ arrow vào quốc gia nào là biết được đầy đủ lịch trình thi đấu ngay thôi…


http://www.marca.com/deporte/futbol/mundial/sudafrica-2010/calendario-english.html

Sưu Tầm

Thứ Hai, 24 tháng 5, 2010

Thứ Sáu, 21 tháng 5, 2010

Người đàn ông đáng kính phục



Xin chuyển tiếp với tất cả lòng kính phục người đàn bà và người chồng đầy tình thương này

Minhha


Ceci est un Mystère de Dieu …



































Et vous à la place de cette femme ! allez-vous vous suicider?
Et vous, si vous étiez cet homme allez-vous accepter cette femme?

Notre vie est dirigée par Dieu, croyez aux mystères


Prière de Sainte Thérèse


Puisses-tu avoir la paix intérieure aujourd'hui.
Puisses-tu avoir la certitude que Dieu t'as placé exactement où tu devais être.
Puisses-tu ne pas oublier les possibilités infinies qui émanent de la foi.
Puisses-tu utiliser ces cadeaux que tu as reçus et transmettre l'amour qui t'as été donné.
Puisses-tu être heureux de savoir que tu es un enfant de Dieu.
Laisse cette présence s'enfoncer jusqu'au fond de toi, permets à ton âme de chanter.
Danse, glorifie, aime.
C'est là pour chacun de nous.


Maintenant envoie ceci à 11 personnes dans les 5 prochaines minutes Tu verras pourquoi


Cet ang
le t'est envoyé .

Tu dois l'envoyer à 11 personnes.


Dans 8 minutes tu recevras quelque chose que tu attends depuis longtemps.

Crois-y
.

Que Dieu te bénisse

Thứ Hai, 10 tháng 5, 2010

Tôn Giáo

Tôn Giáo





1. TÔN GIÁO CÓ CẦN KHÔNG?

Cây cối có sinh hồn. Súc vật có sinh hồn và giác hồn. Súc vật như chó, mèo, trâu, bò, khỉ,.. dù tiếp cận với văn minh của con người, như tivi, điện thoại, máy vi tính, báo chí…thì chúng vẫn chỉ là chó, mèo, trâu, bò, khỉ, dù 1 triệu năm trươc và 1 triệu năm sau chúng vẫn thế. Cây cối và súc vật, không biêt thế nào là thiện, là ác. Chúng không có tự do lựa chọn. Chúng hành động theo bản năng do Thiên Chúa đặt để nơi chúng. Chúng không có trách nhiệm về hành vi của chúng, và không được ban thưởng thiên đàng, hay bị đọa phạt hỏa ngục; chúng là một thứ ‘rôbôt’ của Thượng Đế, chết là hết.



Con người có sinh hồn, giác hồn và linh hồn. Tài năng của linh hồn là trí khôn, hiểu biêt, ý chí, có sáng tạo, tự do lựa chọn, có lương tâm phân biệt thiện, ác; biết ân hận khi làm điều sai; biêt ơn khi nhận lãnh điều tôt; có tình cảm biêt yêu, gét, hờn giỗi, gen tương; biết trở về nẽo chính nếu đi lạc đường; biêt thắc mắc, học hỏi, đọc, viết... Rất cụ thể bạn đọc và hiểu những dòng chữ này, minh chứng bạn có linh hồn. Nếu bạn còn nghi ngờ, xin đọc tiêp: Y sĩ danh tiếng đệ nhât thế kỷ vừa qua, Claude Bernard, giáo sư y khoa đại học Paris, nhân viên hàn lâm viện khoa học Pháp:
“Thân xác con người là một tổ hợp những chất thay đi đổi lại luôn. Tât cả mọi phần trong thân xác đều theo một luật biến hóa không ngừng. Mỗi ngày bạn mất một ít của thân xác, và cái phần mất đó, bạn sẽ bù lại bằng ăn, uống. Như thế trong khoảng thời gian 8 năm, thịt của bạn, xương của bạn, được thay thế bằng thịt mới, xương mới cứ từ từ tiếp đến. Bàn tay mà bạn cầm bút hôm nay, không còn bởi những tế bào cách đây 8 năm. Tuy hình thức không khác, nhưng chất thể không phải là một. Điều mà tôi nói về bàn tay, cũng nói về khối óc. Cái sọ của bạn không đựng một chất óc như cách đây 8 năm. Đã như thế, vì tất cả mọi sự của khối óc biến chuyển trong 8 năm, làm sao bạn còn nhớ đưọc y nguyên những cái bạn đã làm, đã học cách đây 8 năm? Nếu đúng như mấy ông vật lý học nói tư tưởng xếp ngăn, in vào những ô trong óc, thì làm sao những tư tưởng đó còn lại, trong khi các ô trong óc biến hết không còn lại tí nào? Những lá óc bây giờ không phải là cái cách đây 8 năm, nhưng bạn còn vẫn nhớ y nguyên những cái cũ. Như thế trong con người phải có một cái gì khác vật chất, phải có một cái gì biệt lập với vật chât, cái đó chính là linh hồn vậy.” [Đi Về Đâu của Văn Quy, trang 9]



Con người có nhu cầu: khoa học, kỷ thuật, âm nhạc, hội họa, thơ, văn, sách, báo…và quan trọng hơn hết là con người có nhu cầu tôn giáo. Tôn giáo là nhu cầu của linh hồn; cũng như thức ăn, nước uống là nhu cầu của thân xác. Với khả năng của linh hồn, con người biêt suy tư: Tôi từ đâu đến? Tôi sống để làm gì? Sau khi chêt, tôi sẽ đi về đâu? Có Thượng Đế không? Làm sao có được hạnh phúc vĩnh cửu?... Những câu hỏi quan trọng này, không thể tìm được câu trả lời ở đâu, mà chỉ có thể tìm được nơi tôn giáo. Nhu cầu tôn giáo, minh chứng con người cao trọng hơn mọi sinh vật như chó, mèo, khỉ,..dù chúng có sống gần nhà thờ, chùa, giáo sĩ, thì mãi mãi chúng vẫn không có nhu cầu tôn giáo. Chúng ta hãnh diện là người có tôn giáo, là sinh vật thượng đẳng hơn xa súc vật và cỏ cây.



Thân xác chúng ta chỉ là lớp áo ngoài, một ngày kia sẽ phải bỏ lại và sẽ hư nát; linh hồn là con người thật của chúng ta. Có những thân xác xấu xí nhưng tâm hồn cao thượng, đáng kính trọng; ngược lại, có thân xác đẹp nhưng tâm hồn ti tiện, hèn hạ. Chúng ta có câu nói diễn tả phần nào ý đó: “tấm lòng vàng trong manh áo rách”. Những ai chỉ quan tâm đến nhu cầu của thân xác, mà lơ là nhu cầu của linh hồn, không phải là đã lạc lối hay sao?



“Năm 1793, nước Pháp chối bỏ tôn giáo, chối bỏ Thiên Chúa, tôn lý trí lên làm thần. Kêt qủa máy chém mọc lên khăp nơi. Lý hình mệt đừ vì giết chóc. Tại Nantes, người ta sáng chế ra một chiêc tàu giêt người hở đáy. Chiều chiều người ta chất đầy các tù nhân, để đem đổ xuống sông Loire. Mỗi chuyến như thế là 1,300 người. Người ta đếm được 23 chuyến, trong số có 600 trẻ nhỏ. Trên bờ có những tên côn đồ, ai bơi vào được thì bị chặt tay chân, vứt xuống sông. Trong tháng 12 của năm 1793 và đầu năm 1794, quanh thành Nantes có chừng 15,000 người bị hành quyêt.” [Đi Về Đâu của Văn Quy, trang 30]



Những kẻ độc tài, giêt người không gớm tay như Tần Thủy Hoàng, Hitler, Lenin, Stalin, Mao, Pon Pot, Hồ chí Minh và đảng Cộng sản đều là những kẻ không có niềm tin tôn giáo. Họ chủ trương loại bỏ tôn giáo ra khỏi đời sống con người nên luân lý suy đồi, đạo đức xuống cấp thảm hại. Thật bất hạnh cho quốc gia và nhân loại có những con người như thế.



Ngược lại, những người có trái tim nhân ái như St. Francis, Linh mục Damien, Giám mục Cassey, nữ tu Teresa Calcutta,.. và những nữ tu, linh mục, giáo dân, săn sóc cho người cùi, bịnh liệt kháng, tàn tật, ngèo khổ, gái chửa hoang, trẻ mồ côi, bụi đời…đều là những con người có niềm tin tôn giáo. Tôn giáo làm cho cuộc đời bớt đau khổ, có ý nghĩa và đáng sống. Tôn giáo là vấn đề hàng đầu đối với những ai quan tâm đến hạnh phúc của tha nhân và của chính mình, đời này và đời sau.



2. TÔN GIÁO NÀO CŨNG TÔT?

Có người cho rằng tôn giáo nào cũng tôt nên theo tôn giáo nào cũng được. Nếu hiểu khái quát thì câu nói này đúng, vì mọi tôn giáo đều dạy con người làm lành, chẳng tôn giáo nào dạy ăn trộm, ăn cướp. Nhưng nếu hiểu đúng đắn thì không phải vậy. Bởi có nhiều tôn giáo với giáo lý, niềm tin trái ngược nhau. Có trái ngược thì không thể tât cả đều đúng. Có tôn giáo tôn thờ Thượng Đế như Thiên Chúa giáo. Có tôn giáo chối bỏ Thượng Đế và chính mình như Phật giáo. Có tôn giáo vừa theo Chúa, vừa theo Phật; nghiã là vừa hữu thần, vừa vô thần như Cao Đài giáo. Có tôn giáo thờ bò, khỉ, rắn,..những sinh vật thấp kém so với loài người như Ấn giáo. Với những sự khác biệt như thế mà nói rằng theo tôn giáo nào cũng tốt, cũng được, có hợp lý không? Tôn giáo nào cũng dẫn đến cõi hạnh phúc vĩnh cửu có đáng tin không?



3. THIÊN CHÚA GIÁO

Thiên Chúa còn được gọi là Thượng Đế, Ông Trời, Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa, Đấng Chí Cao, Đấng dựng nên mọi loài, mọi vật trên trời, dưới đât, hữu hình và vô hình, là Đấng duy nhât đáng tôn thờ; nếu chúng ta thờ lung tung, hoặc chối bỏ Ngài; hoặc vừa theo Ngài, lại vừa theo kẻ chối bỏ Ngài, như thế có hợp tình, hợp lý không? Những ai thật sự quan tâm đến hạnh phúc đời đời của chính mình, thì phải tìm hiểu đâu là tôn giáo chân thật?



Thiên Chúa Giáo chỉ tôn thờ Thiên Chúa, nhưng làm sao chúng ta biêt có Thiên Chúa? Có rât nhiều cách để biêt có Thiên Chúa. Ở đây, tôi chỉ đơn giản như sau: Tôi từ đâu đến? Tôi sống để làm gì? Sau khi chêt, tôi sẽ đi về đâu? Chính mấy câu hỏi này minh chứng con người có linh hồn. Linh hồn là điều có thực, nhưng vô hình, măt người không nhìn thấy. Cái có thực mà không nhìn thấy đó, gợi cho tôi câu hỏi: ai đã dựng nên linh hồn của chính tôi? Nêú không phải là Đấng chúng ta cũng không thấy, nhưng thật sự hiện hữu, đã dựng nên linh hồn của chúng ta sao?



4. LỜI CHIA SẺ CỦA NHỮNG TÂM HỒN KHAO KHAT CHÂN LÝ:



4.1. “Khi biêt mình đã già, chẳng còn sống được bao lâu, rồi tôi cũng như mọi người là phải nằm xuống đáy mồ, đất lấp lại, thế là xong hay sao? Nếu đó là tât cả cuộc đời của mỗi con người thì thật là vô lý và vô nghiã quá. Tôi băt đầu tìm hiểu Phật giáo. Tôi đọc sach Phật giáo, tiêp xúc với vài vị sư. Tôi thăc mắc: Con người từ đâu mà đến? Có Thượng Đế không? Tại sao có vũ trụ này? Sau khi chết, con người đi đâu?.. Những sách vở tôi đọc, và các vị sư không giải đáp những thắc mắc của tôi, mà cứ bảo những điều đó không cần biết, điều cần hiện tại là hãy làm lành, lánh dữ. Tôi thắc mắc: tại sao đi trên một con đường mà mình không biêt bắt đầu từ đâu, đi đến đâu, làm sao mà đến đich? Làm sao mà có được lòng phấn khởi? Lấy gì làm chỉ đạo?... Sau hơn 2 năm cố gắng học Phật pháp, tôi hiểu Phật giáo chủ trương cái gì cũng vô: vô Thượng Đế, vô mọi sự và vô cả con người của chính mình, “vô ngã”. Đến nước này, tôi không thể chịu đựng được, tôi là một con người có thật, đang khao khát đi tìm chân lý, mà bảo rằng không có tôi, thì ai đang thăc măc và đi tìm chân lý đây? Sau khi suy nghĩ cẩn thận, tôi quyêt định thêm một chữ vô vào Phật giáo là: một tôn giáo không đáng vô [vô ở đây có nghiã là vào, là gia nhập]



Tôi băt đầu tìm hiểu Thiên Chúa Giáo. Tôi đọc Kinh Thánh và tiếp xúc với vài linh mục. Qua Kinh Thánh, tôi nhận thấy Chúa Giêsu thật là Thiên Chúa Ngôi Hai, bởi nguồn gốc, lời nói, việc làm của Ngài tỏ rõ điều đó. Đoạn Kinh Thánh mà tôi suy nghĩ nhiều là đoạn Ngài nói: “Ai làm điều gì dù cho người bé nhỏ nhât của ta, là làm cho chính ta.” Câu nói này cho tôi nghĩ: Ngài là Người Cha của cả nhân loại. Một Người Cha luôn muốn con cái của mình yêu thương nhau. Tôi có con, khi con cái của tôi chửi mắng nhau, hoặc đánh nhau thì y như chúng chửi tôi, tát vào mặt tôi, hoặc như dao đâm vào trái tim tôi. Sau gần 2 năm theo học Thiên Chúa Giáo, tôi quyêt định cùng với cả gia đình gia nhập hàng ngũ con cái Chúa, lúc tuổi đời tôi đã 69. Dù muộn màng, nhưng giờ đây tôi đã biêt: tôi từ đâu đến, tôi sống để làm gì, và tôi biêt tôi sẽ đi về đâu. Tôi vui mừng và dâng lời cảm tạ Thiên Chúa đã ban ơn cao trọng này cho gia đình tôi.”



4.2. “Trước đây tôi là một người theo Phật giáo, vì có bạn theo Thiên Chúa giáo, tôi cũng tò mò tìm hiểu Thiên Chúa giáo, bởi tôi nghĩ: muốn hiểu rõ chính mình, thì phải có cái gì ở ngoài mình để so sánh. Sau khi học hỏi một số giáo lý căn bản của Thiên Chúa giáo, tôi lý luận: mình không biêt Đạo Phật đúng hay Đạo Chúa đúng; nhưng theo lẽ khôn ngoan buộc mình phải theo Đạo Chúa; bởi Đạo Chúa dạy người ta chỉ sống trên đời này có một lần. Nếu đúng thế, không theo Đạo Chúa, là không sống đúng nghĩa làm người, sẽ bị phạt đời đời trong hỏa ngục. Ngược lại. nếu Đạo Phật đúng, không theo Phật kiêp này, thì còn kiêp sau, kiêp sau nữa. Nhưng nếu Đạo Chúa đúng mà không theo...ôi thôi, mất mát đời đời, không lấy gì chuộc lại được. Nên theo Đạo Chúa; lợi, thì lợi vô cùng, lợi đời đời; còn nếu có thiệt, giả sử Đạo Chúa sai, Đạo Phật đúng, mà mình theo Đạo Chúa, thì chỉ chậm vào niết bàn. Mà những ai ham vào niết bàn là chưa diệt dục xong, và như thế cũng chẳng hy vọng vào niết bàn. Tôi chọn theo Chúa để được an tâm đời này và đời sau”.



4.3. Nguyễn Huệ Nhật, khi còn là một chú bé, vì khao khát chân lý, đã tầm sư học đạo từ năm 1957. Năm 1959 chú tiểu Huệ Nhật vào chùa Hải Hội. Huế. Đến tháng 7, năm 1968, ông được thọ giới Tỳ Kheo, tức là Cụ Túc Giới, và Bồ Tác Giới, được đốt vài cái sẹo trên đỉnh đầu, là giới phẩm được coi như bậc ‘Thế Gian Sư’, tại Phật Học Viện Nha Trang. Người tu sĩ đến địa vị ‘Thế Gian Sư’, thì it có người can đảm bỏ địa vị của mình, vì quyền lợi qúa lớn về tinh thần cũng như vật chất do nhà chùa, và quần chúng Phật tử dành cho. Nhưng tâm hồn khao khát chân lý, không cho phép ông ngừng lại ở đó. Sau khi đọc Kinh Thánh, ông nhận rõ chân lý không ở nơi tôn giáo mà ông đã bỏ bao tâm huyết và lòng nhiệt thành đeo đuổi. Ông đã ghi lại cuộc hành trình tìm kiếm chân lý, qua nhiều tac phẩm, nhiều bài viêt, và hằng trăm bài thơ giá trị.

[ Xin đến trang web: http://nguoitinhuu.com/kienthuc/ho-giao/nghuenhat/default.htm ]



Dưới đây là 2 bài thơ của ông:



Chúa ơi,

Trở về trong Chúa Giêsu

Thấy ra con đã bị tù quá lâu

Ngày xưa giọt lệ hoen sầu

Bây giờ lệ ấm chan mầu phước ân

Ngày xưa mỏi bước phong trần

Giờ ôm Thiên Chúa hai chân nhảy mừng

Ngày xưa nước mắt rưng rưng

Bây giờ nước mắt vui mừng tạ ơn

Ngày xưa mấy bận tủi hờn

Bây giờ bỏ giận thôi hờn hát ca

Ngày xưa lạc nẻo quê nhà

Nay về cố quận đường xa vui mừng ...



Một bài thơ khác của ông.

Ngày xưa có cúng ở chùa
Bây giờ có Chúa ở cùng vui thay.
Ngày xưa cầu đạo cạo đầu
Bây giờ Ðạo tỏ nhiệm mầu trong Cha.
Ngày xưa mặc áo cà sa
Bây giờ miệng cứ hát ca Ơn Trời
Ngày xưa xác tả hồn tơi
Bây giờ Thiên Chúa ban Lời yêu thương.
Ngày xưa lặn lội miên trường
Bây giờ Sự Sống, Con Ðường, Giê-Xu
Ngày xưa sương gió mịt mù
Bây giờ thấy Ðấng Thiên Thu trong hồn
Ngày xưa chết hụt, chưa chôn
Bây giờ chết thật, linh hồn tái sinh.

4.4. Paul Williams, là giáo sư của đại học University of Bristol, và là chủ tịch Hội nghiên cứu Phật giáo của Vương quôc Anh “United Kingdom Association for Buddhist Studies”. Năm 1978, Paul Williams gia nhập Phật giáo và hăng say truyền bá Phật giáo; nhưng sau khi Paul Williams đọc sách của Thoma Aquino, một người Công giáo, ông đã nhận ra: đức tin vào Thiên Chúa không hề phản lại lý trí; hơn thế, Paul Williams còn quả quyết là hình ảnh con người theo Phật giáo rất lẻ loi và tiêu cực, trái lại hình ảnh con người theo Công giáo hoàn toàn tich cực, ông viêt: “Nếu Phật giáo là chân thực, thì cuối cùng đối với mỗi chúng ta, cuộc sống cực khổ hiện tại chỉ là hư không và hoàn toàn vô giá trị; nhưng nếu Công giáo là chân thực, thì bấy giờ cuộc sống của mỗi chúng ta có giá trị vô cùng và hoàn toàn viên mãn.” Lễ Phục Sinh năm 2000, Paul Williams gia nhập Công Giáo.



4.5. Mashaba, học gỉa Ấn độ sinh tại Bihar, du học bên Anh nhiều năm, tuy có tài về hành chánh, ông không nhận một công tác nào trong khối Liên hiệp Anh. Sẵn có khuynh hướng về thần bí học, ông sống độc thân để nghiên cứu các tôn giáo. Ông nói: "Sở dĩ mỗi tôn giáo công dụng khác nhau, vì mỗi giáo tổ nhìn thấy một khía cạnh đau khổ của con người và tìm cách cứu giúp theo khía cạnh đó. Bởi thế có thứ kêu gọi từ bi quảng đại, có thứ chủ trương diệt dục hy sinh, có thứ dùng hiếu thảo nhân nghĩa, có thứ giúp tu thân cứu đời, công bằng bác ái, nhưng không tôn giáo nào đầy đủ như Thiên Chúa giáo, vì xây dựng cho con người một cuộc sống có ý nghĩa cao thượng, bảo đảm cho một tương lai hạnh phúc, và có nhiều đặc điểm mà các tôn giáo khác không có, như:
- Vị giáo tổ bởi Trời giáng thế và đã được Sấm ký báo trứơc từ mấy ngàn năm trong lịch sử hẳn hòi, khác hẳn với những giáo tổ khác, chỉ là người trần tục.

- Có từ Trời xuống lập đạo, thì đạo đó mới có khả năng đưa con người về Trời.

- Đạo Trời thì như thuốc trường sinh, dùng thuốc này thì không cần thuốc nào nữa; vì các đạo khác chỉ xoa dịu, hay làm quên đau khổ trong thời hạn, còn ĐạoTrời chẳng những cứu khổ, còn ban cho con người sự sống đời đời, đó mới thật là ước vọng cao nhất của mỗi người.

- Đức Chúa Giêsu chiến thắng sự chêt, đã sống lại và về Trời, bảo đảm cho cuộc hành trình và niềm hy vọng vững chắc của người tín hữu.

- Vì mang sắc thái siêu phàm và chứa đựng những gía trị cao thượng vượt mức, nên Đạo Trời thường bị gen tị, hiểu lầm hay lấn áp, thế mà vẫn phát triển điều hòa, vẫn vững bền giữa mọi gian lao thử thách, khiến cho nhiều người trứơc kia thờ ơ lãnh đạm, hay thù gét, phải tìm hiểu và cảm phục, và từ đó trở nên tín hữu nhiệt thành.

Ông kết luận bằng một ví dụ: trứơc khi mặt trời mọc, người ta đã thấy ánh sáng của Đạo Trời chiếu vào nhân loại, trứơc khi chính Con Trời giáng thế làm sáng tỏ hẳn Đạo Trời. Nay ngày của cuộc đời đã đến lúc chính ngọ, thì không ai mà không được ánh sáng của Đạo Trời soi tới.”



Kính tặng những tâm hồn khao khát chân lý ■



Nguyễn HyVọng