






















Bài viết để làm sáng tỏ hơn về dược tính của cây Bilberry trị bịnh đái đường
Thái Thụy Vy
Vì có quá nhiều người điện thoại và Email hỏi xin hình và cây Bilberry. Nên tôi thấy có bổn phận phải nói rỏ hơn về một loại dược thảo mới khám phá.
Tôi gọi là dược thảo mới vì ngay trong cuốn”Những cây thuốc và những vị thuốc Việt Nam” của Tiến Sĩ Ðỗ Tất Lợi dày cả ngàn trang cũng không thấy nói đến.
Còn cuốn “Encyclopedia of Herbal Medecine của tác giả Andrew Chevalier, HNIMH cũng chỉ đề cập sơ qua về một loại dược thảo cùng họ Bilberry và Blueberry.
Theo ông Andrew thì cây Bilberry(Vaccinium myrtillus) thuộc họ Éricaceae có bông màu đỏ có hiệu quả chống bịnh đái đường nhẹ (antidiabetic), nó có hiệu lực kiểm soát lượng đường trong máu trong thời gian tiền đái đường. Nhưng nó chưa phải là thuốc chọn lựa chuyên trị Bịnh Ðái Ðường (alternative to orthodox diabetic treament).
Theo giáo sư Phạm Ðình Trị ở Việt
Cây Kim thất tai có nguồn gốc từ Thuỵ Ðiển (người cho tôi gây giống bão là giống Ðài Loan). Nó mới xuất hiện tại Việt
Cây cao trên dưới 1m, thân mềm, mộng nước. Các lá trên ngọn màu lục nhạt, bên dưới màu lụïc sẫm, có sức sống rất mạnh, đâm cành nhánh nhanh chóng đan xen thành một tấm thảm dầy đặc. Tuy nhiên điều kỳ diệu là từ trên xuống tới mặt đất không tìm thấy một lá nào khô héo, dù rằng bên dưới thiếu ánh sáng. Ðiều này chứng tỏ khả năng điều hoà dòng nhựa dinh dưỡng từ trên xuống dưới vô cùng độc đáo. Tốc độ đâm chồi nhánh cực kỳ nhanh sẽ xuất hiện khi cây bị lặt lá hoặc bị cắt ngọn. Sau 20 ngày từ lúc bị lặt lá hoặc bị cắt ngọn, hàng chục chồi non có thể mọc ra dài 4-6cm, có thể tách ra để nhân giống (propagate). Từ 20 ngọn ban đầu, sau 6 tháng ta có thể nhân rộng ra để phủ kín trên 100m2 một cách dể dàng. Ngoài việc dùng làm thuốc trị bịnh không gây phản ứng phụ (side effect). Cây Kim Thất Tai còn có thể làm rau để xào hoặc nấu canh để ăn trong các bửa ăn như rau mồng tơi và mùi vị rất dể ăn
Một cây thuốc quý dể trồng bằng chồi nhánh chưa đâm rể trị bịnh tiểu đường hữu hiệu, rẽ tiền nhất. Nó còn có hiệu quả trị các chứng viêm phỏng, viêm sưng, ho gió, ho gà, ho lao, viêm họng, ngã thương, sưng vú, nhọt độc, ngứa loét, bong gân,nổi mận, loét dạ dày, táo bón, viêm đại tràng, điều hoà máu huyết, an thần, giảm đau, trị nhức đầu, chóng mặt, cầm máu tốt, điều hoà huyết áp, điều hoà kinh nguyệt, giải độc.
Có thể nói là tác dụng trị liệu của dược thảo này rất đa năng, gần giống cây Sống Ðời (Thổ Tam Thất).
Sơ lược liệt kê công dụng trị liệu bằng cây Kim Thất Tai:
1) Trị tiểu đường: Sáng chiều, nhai nuốt mỗi lần 7-9 lá. Ðiều hoà lượng đường trong máu rất rỏ rệt. Không gây phản ứng phụ. Không độc. Có thể kết hợp với các vị thuốc trị tiểu đường khác.
2) Trị ho gió: (viêm phế quản) ho khan hoặc có đờm:nhai một lá Kim Thất Tai, ngậm nước nuốt dần. Khỏi ho sau 5 phút.
3) Viêm họng: Nhai lần lượt từng lá Kim Thất, ngậm nuốt dần dần. Sau 30 đến 60 phút sẽ khỏi.
4) Ho lao: Sáng và chiều, nhai nuốt mỗi lần 2 ngọn Kim Thất tươi, liên tục trong 6 tháng. Ðồng thời mỗi bửa cơm sáng và chiều, nên dùng 10 ngọn Kim Thất(dài 25 cm) thái nhỏ để xào hoặc nấu canh ăn. Sẽ không bị đau nhức mỏi. Mỗi lần lên cơn ho nên nhai ngậm một lá Kim Thất nuốt nước dần, sẽ tiêu đờm tốt, khỏi ho.
5) Nhức đầu: Giã nhuyển lá Kim Thất để đắp vào chổ đau trên đầu, đồng thời dùng máy xay sinh tố (blender) xay 5 ngọn Kim Thất thái nhuyển cùng với 100 ml nước để uống. Sẽ khỏi nhức đầu sau 20 phút.
6) Sổ mũi: Hỉ mũi cho ra hết nước mũi, dùng bông ngoáy cho khô, sau đó dùng một cuống lá Kim Thất bóp nát bằng hai ngón tay, dùng ngón tay trỏ thấm một giọt dịch cuống lá ngoáy vào lổ mũi. Khỏi ngay sau vài phút.
7) Ðau lưng nhức mỏi: Thái nhỏ 10 ngọn Kim Thất để nấu thành bát canh để ăn. Khỏi đau lưng sau 5-6 giờ.
8) Táo bón, kiết lỵ: Dùng máy xay sinh tố xay 6 ngọn Kim Thất thái cùng với 120 ml nước. Chia làm 2 phần để uống vào buổi sáng và chiều. Sau 5,6 ngày sẽ khỏi.
9) Ðau bụng, ỉa chảy: nhai khoảng 10 lá KimThất hoặc giả nát hòa với nước để uống. Sẽ giảm đau bụng và ỉa chảy sau 30 phút.
10) Mụn ngứa, lở loét do sâu lông, vết cắn của côn trùng, động vật: vò nát, xoa xát, đắp buộc bằng lá, ngọn Kim Thất. Khỏi sau vài giờ.
11) Vết thương chảy máu, đòn ngã tổn thương: Giã đắp, buộc rịt, nhanh chóng cầm máu, làm dịu đi sự viêm sưng, đau nhức.
12) Bong gân : Giã nát 2 ngọn Kim Thất đắp lên chỗ viêm gân, đau nhức sau đó dùng một lá Ðại Tướng Quân hơ lửa cho nóng, quấn quanh bàn chân đã đắp Kim Thất giả nhỏ, buộc hoặc băng bên ngoài để giữ ổn định. Sau 6-8 giờ sẽ khỏi.
13) Bị ngộ độc do thức ăn: Dùng máy xay sinh tố để xay 6-8 ngọn Kim Thất cùng với 100-200 ml nước, phân làm 2 lần uống cách nhau 2 giờ. Nhanh chóng hấp thụ bớt độc tố, làm giảm tác dụng chất độc.
14) Mất ngủ: Thường xuyên ăn tươi các ngọn Kim Thất, hoặc xào hay nấu canh ăn, sẽ có tác dụng an thần, điều hòa máu huyết, tạo điều kiện thuận lợi cho giấc ngủ tốt.
15) Nhức răng: Giã nát một ngọn Kim Thất, dùng từng phần để nhai ngậm chổ răng đau, sẽ mau chóng giảm đau.
16) Thấp khớp, cảm giác kiến bò tại các bàn chân, bàn tay: Giã nát một ngọn Kim Thất, xoa xát tại nơi đau nhức, xơ cứng các khớp. Giảm ngay sự đau nhức khó chịu sau vài phút. Trường hợp thấp khớp kinh niên, thường xuyên uống mỗi tối vài ngọn đã xay máy sinh tố.
17) Viêm đại tràng mản tính: Dùng máy xay sinh tố xay mỗi ngày 6 ngọn Kim Thất với 120 ml nước, chia làm hai để uống vào mỗi buổi sáng và tối. Thường xuyên ăn canh Kim Thất, hoặc xào để ăn vào các bửa cơm. Sẽ khỏi đau sau vài tháng.
Người không bệnh gì cả: Thường xuyên ăn tươi các ngọn Kim Thất, hoặc xào, nấu canh sẽ có tác dụng tốt làm cho máu huyết được lưu thông, điều hoà, tăng cường sức khoẻ, chống bệnh ...Ðiều hòa huyết áp, điều hòa và tăng cường các chức năng nội tiết.
Theo cuốn Herbs for Health and Healing, A drug- free Guide to Prevention and Cure do Kathi Keville, Director of the American Herb Association thì các nhà bác học Pháp nghiên cứu về dược thảo cho hệ tuần hoàn đã tìm thấy cây hawthorn, cây motherwort, cây ginkgo, cây bilberry, dầu cây evening primrose và cây guggul, một loại liên hệ với cây myrrh, là những dược thảo tốt nhất trong việc làm giảm máu bị đông cục (blood clot).
Cộng thêm chất enzyme bromelain từ cây dứa và chất flavonoids được biết đến là anthocyanidins, có trong cây bilberry và các loại trái màu sậm, không chỉ ngừa máu đông cục, mà còn có thể làm bể các mảnh cholesterol đã kết cục trong các tỉnh mạch.
Bromelain, dầu evening primrose và anthocyanidins có sẳn dưới dạng viên, nhưng các bạn cũng có thể mua đưới các dạng khác.
Bạn cũng có thể dùng anthocyanidins cho cơ thể dưới dạng viên chứa bilberry và các loại dược thảo khác có nhiều dược chất hổn hợp. Các loại viên đó đều có bán trong các tiệm thực phẩm thiên nhiên.
*** Ðặc điểm của cây Kim Thất là không bị bất cứ giống sâu bệnh nào phá hoại.
***Một kinh nghiệm của riêng tôi là nên trồng hữu cơ (phân chuồng Steer manure trộn sẳn với đất) rất hợp với loại dược thảo.
Cũng như Trà phản phì Hao Ling ( Camelia Sinensis) làm giảm Triglycérides và Cholesterol mà Bác sĩ Trần Ðại Sỹ giới thiệu có tới 10 dạng và dạng thứ ba có nhiều loại. Kim Thất Tai họ Blueberry cũng vậy, nhưng mỗi loại tác dụng mạnh hay yếu khác nhau.
Mới đây, trong chương trình trực tuyến vấn đáp trên đài truyền hình CNN của Larry King, có mục phỏng vấn Bác sĩ Andrew Weil, tác giả cuốn”The Healthy Kitchen”và” Can alternative medecine kill you?” đã trả lời một số khán thính giả những câu hỏi thường thức về dược thảo là: Hãy tránh xa các quảng cáo quá đáng về thuốc giảm cân và các thuốc quảng cáo làm trẻ lại. Chỉ cần ăn ít đi, tập thể dục nhiều hơn và ăn đúng như Brillat-Savarin nói:” Hãy nói anh ăn gì, tôi sẽ nói anh loại người nào”. Ông khuyên nên tránh ăn nhiều Carbohydrates, các loại Snack, fast foods mà nên dùng Green Tea ngày 4 lần.
Ông lấy thí dụ mới đây thuốc Éphédra đã giết chết một ngôi sao bóng rổ và cách trị bệnh Ung Thư theo phương pháp Chemotherapy sẽ lỗi thời (obsolete) . Ông bênh vực một số dược thảo như một loại men đỏ ở Trung Quốc, vài loại nấm ở Nhật, và hiệu quả tuyệt diệu cuả khoa châm cứu trong nhiều bệnh. Tóm lại nên dùng nhiều chất antioxydant để loại các Free radical trong việc tránh bệnh Ung thư.
Tôi thấy có bạn bàn về cây Loquat (Ériobotrya Japonica) thuộc họ Rosaceae. Ðó là một giống cây chịu khí hậu lạnh nên chỉ miền Bắc ta mới có gọi là Cây Nhót, ở Cao Bằng gọi là cây Phì Phà, người Tau øcòn goị là Tỳ Bà Diệp vì lá hình giống như cây đàn tỳ bà, trái rất ngon và lá có thể dùng để uống tươi hoặc phơi khô như trà, hột gọi là Tỳ bà nhân. Khi dùng nhớ lau loại lông trên lá. Nó có thể trị bịnh đái đường nhẹ nhưng chủ trị ho và chảy máu cam nhiều hơn. Trong lá có một chất Saponin, vitamin B, trong tỳ bà diệp có acide ursolic C20 H48 O, acide oleanic và caryophylin.
Ở Escondido, CA. tôi thấy vườn sau thiền viện Trúc Vàng có cây Loquat lớn như cây cổ thụ mà rất tiếc thầy Thích Phụng Sơn chưa biết công dụng của nó.
Ngày xưa, ông La Fontaine khi viết chuyện ngụ ngôn “Con sư tử bị bịnh thống phong”. Ông chỉ ví von, nhưng bịnh thống phong (gout, goutte) ngày nay không chỉ là bệnh nhà giàu theo Y khoa, mà bệnh đái đường mới là bệnh nhà giàu bị nhiều nhất, nó đứng hàng thứ ba trên thế giới. Cứ nhìn mỗi ngày, chỉ mỗi một thành phố Las Vegas đổ bỏ các thực phẫm trong ngày đủ nuôi cả một sắc dân . Một dân tộc bị chứng béo phì (obesity) trong lúc các dân tộc khác chết đói. Nghĩ ông trời có bất công lắm không hay là hình phạt (coup revers) của người dư ăn không nghĩ gì đến kẻ khác?
Tôi còn đang gây giống cây Hoàn Ngọc cũng đem từ Việt Nam qua chuyên trị Ung Thư. Qua các cuộc điện đàm tôi được nhiều người ở Việt Nam cho biết nhiều về công hiệu cây nầy bằng chứng là em vợ một người bạn thân bị Ung Thư tữ cung bị thầy chạy, nhà thương đuổi về rồi mà nhờ cây Hoàn Ngọc nầy mà còn sống.
Các bạn nào có biết về cây nầy xin đưa lên diễn đàn cho mọi người học hỏi .
Tôi xin lổi các bạn vì tôi đã về hưu, đơn chiếc nên không thể đi gửi cho các bạn được như lời yêu cầu, vì quá nhiều người xin cây Kim Thất Tai đang ở xa. Ở Arizona, tôi đã thực nghiệm cho một số người lạ cũng như quen, Mỹ cũng như Việt và hiệu quả đáng kể thật khích lệ nên có bạn gọi lại đòi bái sư sau khi dùng thử chỉ mới hai ngày. Có bạn không ngần ngại gọi tên là cây thuốc tiên. Có người, bố từ Pháp qua đang bị Ðái Ðường , tôi cho thử ngay và đã đến xin thêm giống để đem về Pháp cho người thân cũng bị Bệnh Ðái Ðường. Tôi đang nghĩ việc nên sấy khô như trà cây KimThất Tai để dành cho các bạn ở xa mà không sợ bị hư vì loại Kim Thất nầy chỉ ngâm rửa là bị dập.
Thái Thụy Vy
| Chuyện lạ về "thần dược" cây lược vàng | ||||||
| “Khá nhiều bệnh nhân mắc chứng nan y, hoặc từng bị trả về từ bệnh viện K trung ương, sau khi sử dụng cây lược vàng đã thuyên giảm, khỏi bệnh”, bác sỹ Nguyễn Thế Dân - Giám đốc Trung tâm Cứu trợ trẻ em tàn tật tỉnh Thanh Hóa cho biết. | |||||
Cây lược vàng đã chính thức được đưa vào nghiên cứu thử nghiệm trong thời hạn 48 tháng, sau đó sẽ trình Bộ Y tế xét duyệt, đăng ký lưu hành làm thuốc chữa bệnh trên toàn quốc. Từ những kết quả khảo sát ban đầu, Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật Thanh Hóa phối hợp cùng Câu lạc bộ Hàm Rồng – Thanh Hóa đã chính thức đưa cây lược vàng vào nghiên cứu thử nghiệm trong vòng 48 tháng (từ tháng 6/2008 đến 6/2012). Triển khai nhân giống lược vàng trên diện rộng, trước mắt dành 1000 m2 trồng lược vàng phục vụ việc nghiên cứu. Đồng thời đưa vào thử nghiệm lâm sàng 2 loại dược phẩm chế từ cây lược vàng (thuốc bóp và thuốc uống) trong vòng 30 tháng tại các bệnh viện Đông y Thanh Hoá, Bệnh viện Đa khoa Thanh Hoá, Bệnh viện Phụ sản Thanh Hoá và bệnh viện Thành phố Thanh Hoá. Dựa trên kết quả nghiên cứu thu được, Sở Y tế Thanh Hóa sẽ tiến hành lập hồ sơ đăng ký các dạng thuốc trình Bộ Y tế duyệt cấp số đăng ký lưu hành toàn quốc trong 18 tháng tiếp theo. Nhiều năm nay, cây lược vàng (còn gọi là lan vòi - tên khoa học là Callisia fragrans), vẫn được người dân sử dụng như một “thần dược” chữa bách bệnh. Từ năm 2006, tại Thanh Hóa bắt đầu rộ lên “phong trào” trồng lược vàng vừa làm cảnh, vừa làm thuốc tại các hộ gia đình. Từ những chuyện thật khó tin Rất tình cờ khi anh bạn đồng nghiệp nhắn nhủ: “Về miền Trung, nhớ ghé qua Thanh Hóa mua giùm mấy cây lược vàng làm thuốc”. Thấy tôi lúng túng vì chưa bao giờ nghe nhắc đến loại cây này, anh bạn tròn mắt: “Thần dược dân gian đấy! Chữa bách bệnh, từ cảm mạo thương hàn đến mỏi gối, đau răng. Nghe đồn còn chữa cả... ung thư (?)”. Vốn tậm tịt về kiến thức đông y, tôi chẳng dám đặt niềm tin vào lời đồn thổi lạ tai ấy, nhưng vẫn ghé về xứ Thanh bởi nể lời người bạn tri âm. Mãi tới khi có mặt tại TP. Thanh Hóa, chúng tôi mới ngỡ ngàng vì dư luận đang rất “nóng” bởi thông tin về tác dụng chữa bệnh của “thần dược” lược vàng. Tại trung tâm Câu lạc bộ (CLB) Hàm Rồng, những vườn cây lược vàng mới được ươm trồng xen lẫn các loại cây thuốc nam đang lên xanh tốt. Ông Nguyễn Văn Thìn (phường Trường Thi – TP. Thanh Hóa) thành viên CLB Hàm Rồng vui mừng cho biết căn bệnh gút hành hạ ông suốt 5 năm nay đã khỏi hẳn chỉ sau 3 tháng chữa trị bằng cây lược vàng. Từ năm 2003, cơn đau khớp âm ỉ từ căn bệnh gút đã làm ông Thìn mất ăn mất ngủ mỗi khi trở trời. Tháng 8-2008, nhờ người quen mách bảo về công dụng chữa bệnh của cây lược vàng, ông xin về trồng. Dùng thân ngâm rượu bóp và lấy lá ăn sống hàng ngày. Sau 3 tháng, cơn đau biến mất, bắt đầu tăng cân; qua kiểm tra xét nghiệm máu, nồng độ A-xít Uric từ 625 Mol/l đã giảm chỉ còn 457Mol/l. Không chỉ riêng ông Thìn, nhiều người quanh khu phố như bà Tập bị bệnh tiểu đường, ông Phan Tiến Nhật bị tá tràng, ông Đỗ Văn Tất bị viêm lợi, lung lay răng, sau một thời gian sử dụng cây lược vàng đều đã thuyên giảm hoặc khỏi bệnh. Ông Đỗ Xuân Thắng, 60 tuổi (khu phố 4, đường Lê Thánh Tông, phường Đông Sơn, TP Thanh Hóa) bị vôi hóa đĩa cột sống, u xơ tuyến tiền liệt cách đây 5 năm, sau gần 1 năm dùng rượu lược vàng đã hết đau lưng và xẹp khối u xơ. Từ những tác dụng chữa bệnh hiệu quả trên, hầu hết các gia đình thành viên CLB Hàm Rồng đều tự trồng lược vàng trong vườn làm thuốc. Có những gia đình như ông Trịnh Minh Hùng (phường Trường Thi), Lê Đức Việt (phường Điện Biên), Lê Ngọc Xướng (phường Đông Hưng) trồng tới hàng trăm cây. Nhiều người dân từ các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Hà Nội đã về tận Thanh Hóa mua giống cây lược vàng vì nghe đồn về tác dụng chữa bệnh của loại “thần dược” này. Có thời điểm, cây giống lược vàng bán rất chạy với giá 50.000 đến 70.000 đồng/cây. Niềm hy vọng lớn cho những bệnh nhân nghèo Trao đổi với chúng tôi, ông Lường Văn Sơn, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Dược-Vật tư y tế Thanh Hóa cho biết: “Mặc dù chưa có công trình khoa học nào chính thức khẳng định về công dụng chữa bệnh của cây lược vàng, nhưng kết quả khảo sát do CLB Hàm Rồng tổ chức vừa qua đối với 115 bệnh nhân đã sử dụng cây lược vàng, cho thấy những hiệu quả vô cùng bất ngờ”. Bác sĩ Phùng Sĩ Các, Chủ nghiệm CLB Hàm Rồng đưa ra kết quả khảo sát bằng phiếu thăm dò với kết quả khả quan: trong 115 bệnh nhân dùng lược vàng 32 người chữa khỏi bệnh viêm họng, viêm phế quản; 21 người khỏi bệnh đau khớp xương; 8 người khỏi bệnh đau dạ dày, tá tràng; 6 người khỏi bướu cổ, khỏe mạnh trở lại dù đã mắc ung thu di căn; 3 người khỏi cảm hàn, tê liệt chân tay... Đặc biệt, trường hợp bệnh nhân ung thu Trịnh Thị Chính, 52 tuổi, (trú tại số nhà 240, đường Đội Cung, phường Trường Thi, TP Thanh Hoá) từng bị trả về từ bệnh viện K do u nang buồng trứng di căn. Theo bác sĩ Phùng Sĩ Các, bà Chính về nhà trong tình trạng rất yếu, mạng sống chỉ tính bằng ngày. Tuy nhiên chỉ sau vài tuần dùng rượu chế từ cây lược vàng, bà Chính tăng cân trở lại, đến nay, sau 4 tháng từ ngày trở về từ bệnh viện K, sức khỏe của bà hồi phục như chưa từng có bệnh gì xảy ra. Cây lược vàng đã được Viện Nghiên cứu Dược liệu - Bộ Y tế xác định thuộc họ thài lài có nguồn gốc từ Mexico. Theo ông Nguyễn Văn Thát, Chủ tịch liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa, hiện chưa ai có thể khẳng định những dược chất chứa trong cây lược vàng gồm những thành phần gì. Đa số đều dùng theo kinh nghiệm từ một tạp chí Sức khoẻ - Đời sống của Nga, do tác giả Vladimir - Ogarkov viết. Theo tài liệu này, cây lược vàng có tính mát, hạ huyết áp, không độc. Khi sử dụng có thể dùng lá ăn sống, toàn bộ thân rễ thì ngâm rượu uống, làm thuốc bóp. Theo kết quả kiểm chứng từ những bệnh nhân đã sử dụng, dược phẩm chế từ cây lược vàng có thể chữa trị rất nhiều chứng bệnh như viêm họng, dạ dày, tá tràng, đau lưng, khớp, bướu cổ di chứng não, tim mạch, huyết áp và xơ vữa động mạch, u nang buồng trứng. Hiện tỉnh Thanh Hóa và các cơ quan chức năng đã phối hợp triển khai chương trình nghiên cứu đồng thời 2 dạng sản phẩm thuốc bóp và Siro dùng để uống chế từ cây lược vàng. Đó cũng là tín hiệu đáng mừng đối với những người dân nghèo để có thể tự trồng hoặc mua dược phẩm chữa bệnh hiệu quả cao với chi phí rẻ. “Thần dược”... cây lược vàng?Thứ hai, 24/03/2008
Thời gian gần đây, trên địa bàn thành phố Thanh Hóa, hàng trăm người đua nhau “săn” mua cây lược vàng (có nơi gọi là cây lan vòi) bởi họ hay tin loại cây này có thể chữa được “bách bệnh” với phương thức điều trị rất đơn giản: dùng lá cây để ăn sống; thân cây, vòi cây xắt mỏng ngâm với rượu!Điều trị ung thư? | ||||||
Cây Xuân hoa có tên khoa học là Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk, thuộc họ ôrô (Acanthaceae). Qua nghiên cứu cho thấy thành phần hoá học của cây có các chất sau (xếp theo thứ tự từ nhiều đến ít): Sterol, đường tự do, carotenoit, flavonoit, axít hữu cơ, vết saponin và vết chất béo. Thử nghiệm cho thấy cây Xuân hoa không độc và không thấy có biểu hiện khác thường nào đối với người dùng.
Theo tài liệu chuyền tay trong dân gian mà chúng tôi có được thì cây Xuân hoa có rất nhiều công dụng, chữa các bệnh từ thông thường đến nan y. Nhưng phải qua các thí nghiệm mới xác minh được các tác dụng lưu truyền đó. Trước hết cao đặc toàn phần và các phân đoạn chiết tách từ lá cây Xuân hoa (cả cây trồng và cây mọc hoang) đều có tác dụng kháng khuẩn đối với nấm mốc, nấm men, đặc biệt vi khuẩn Escherichia coli ở đường tiêu hoá. Điều này phù hợp với kinh nghiệm dân gian dùng lá cây Xuân hoa chữa đau bụng, tiêu chảy do nhiễm khuẩn, rối loạn tiêu hoá. Ngoài ra, cao đặc lá cây Xuân hoa còn có tác dụng ức chế quá trình peroxy hoá lipid màng tế bào, có xu hướng tác dụng bảo vệ tế bào gan.
Lá cây Xuân hoa không mùi vị, hơi nhớt. Thường dùng lá tươi rửa sạch, nhai với mấy hạt muối rồi chiêu nước, hoặc giã nát lấy nước uống, hay nấu canh. Cũng có thể dùng lá phơi khô. Về liều lượng còn phụ thuộc vào loại bệnh của từng người: Thông thường ăn 5-7 lá/lần (lá nhỏ có thể dùng 7-9 lá), ngày 1-2 lần. Thời gian điều trị tuỳ vào bệnh như rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy, lỵ trực khuẩn chỉ dùng 2 ngày là khỏi; đái rắt, buốt, ra máu dùng 3-4 ngày; viêm đại tràng co thắt điều trị khoảng 2 tuần, kết hợp với lá Mơ lông. Lá cây Xuân hoa cũng được dùng cho gia súc, gia cầm như chó cảnh sau khi đẻ cho ăn vài lá, gà chọi khi thi đấu cho ăn 1-3 lá.
Theo tiến sĩ Võ Văn Chi (Từ điển cây thuốc Việt Nam. NXB Y học 1997) cho biết ở Trung Quốc người ta dùng rễ Xuân hoa chữa đòn ngã tổn thương.
Để tránh nhầm lẫn, xin nhắc lại các đặc điểm dễ nhận biết của cây Xuân hoa: Cây bụi, cao từ 1-3m, sống nhiều năm, thân non mềm màu xanh lục, phần già hoá gỗ màu nâu, phân nhiều cảnh mảnh. Lá mềm mọc đối, mép lá nguyên. Phiến lá hình mũi mác, hai đầu nhọn, dài khoảng 15cm, rộng 4cm, khi vò tươi thấy lá nhớt và hơi dính tay. Cuống lá dài khoảng 2cm, gốc phiến lá men xuống cuống lá. Cụm hoa dài 10-16cm ở kẽ lá hoặc đầu cành. Hoa lưỡng tính, không đều, dài khoảng 3cm, cánh hoa màu trắng, phần dưới hình ống hẹp, trên có 5 thuỳ hoa chia làm 2 môi, thuỳ dưới của môi dưới có các chấm màu tím. Bao phấn màu tím. Vòi nhụy dài khoảng 2,5cm. Tuy nhiên nhiều người nói trồng xuân hoa đã 3-4 năm nhưng chưa thấy ra hoa, do thời tiết hay do bị hái lá, chưa rõ nguyên nhân?!
Cách dùng và liều lượng:
Người ta dùng lá tươi là chủ yếu, lá tươi ăn ngay hoặc lấy nước uống, nấu chín lá ăn như canh.
Do tác dụng chủ yếu là chất nước trong lá, nên vỏ cây hoặc vỏ rễ có thể ngâm bằng rượu hoặc nấu lấy nước. Lá tươi không có mùi vị, dễ ăn, liều lượng nhiều hay ít tùy thuộc vào từng người. Thông thường nên ăn từ 1- 7 lá và ăn nhiều lần. Mỗi lần không quá 10 lá. Uống quá liều có thể phản ứng nhẹ như người bị choáng váng nhưng chỉ sau 10 – 15 phút là khỏi.
Các số liệu sau đây là phổ biến (trừ ngoại lệ):
Ðau dạ dầy do bị loét, viêm: ăn 2 lần/ngày. Mỗi lần không quá 7 lá. Khoảng 50 lá là khỏi.
Chảy máu đường ruột: Uống lá tươi hoặc lá đã nát, dùng 7–10 lá. Khoảng 1-2 lần là khỏi.
Viêm đại tràng co thắt: Ăn như trên, 100 lá, kết hợp ăn lá Mơ lông trong bữa ăn. Ăn từ 1 đến 2 tháng.
Viêm gan, xơ gan cổ trướng: Ngày ăn 2-3 lần, mỗi lần 7 lá, dùng khoảng 150 lá.
Ðau thận, viêm thận, đau thường xuyên: Dùng không quá 50 lá, chỉ khoảng 30 lá là dứt cơn đau, ngày 3 lần, mỗi lần 3-7 lá.
Tả lỏng, đi lỵ, rối loạn tiêu hóa: 7-15 lá, dùng 2 lần là khỏi.
Mệt mỏi toàn thân: 3-7 lá, ăn 2 lần.
Ðái rắt, đái buốt, đái đục, đái ra máu: Ăn từ 14-21 lá hoặc giã nát uống nước đặc.
Chữa bệnh cho gà dùng 1-3 lá, gà chọi sau khi chọi 1-3 lá. Chó cảnh đẻ ăn 1 lá sau 1 ngày đẻ là mạnh ngay. Ðau mắt đỏ, mắt trắng, ứ máu trong mắt lấy 3 lá đắp vào mắt sau một đêm là khỏi.
Được biết ở vài nơi có người thực nghiệm chữa cai nghiện ma túy có kết quả tốt. Họ dùng một nửa lá khô và một nửa lá tươi sắc đặc uống trước khi lên cơn nghiện từ 60-90 phút. Ngày uống 2 lần, uống liên tục một tuần, sau đó ngửi thấy ma túy là kinh sợ nên cai nghiện rất triệt để. Tuy nhiên trong thực tế có bệnh nhân dùng thì thấy khỏi, có bệnh nhân thì không khỏi do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Lưu ý
Dùng lá tươi là chủ yếu. Nấu lá chín dùng như canh cũng được. Vỏ hay rễ cây có thể chiết xuất bằng rượu hoặc nấu lấy nước. Liều lượng nhiều hay ít thuộc vào từng bệnh, từng tạng người. Thông thường nên ăn 1-4 lá, không nên quá 7-9 lá. Nếu quá liều có thể gây phản ứng nhẹ như choáng váng, nhưng chỉ sau 15 phút là khỏi. Gián cách giữa hai đợt ăn từ 7 giờ trở lên. Thường dùng ngày hai lần, trước khi ăn cơm. Không phải kiêng cử.
Lá già thì đắng, có bột, lá non thì nhớt, không mùi, không có độc tố, vỏ và rễ có mùi như lá già, lá cây tươi có tác dụng kích thích thần kinh. Dùng nhiều có cảm giác say nhẹ trong thời gian ngắn. Nấu chín ăn như rau, không phản ứng gì, nếu dùng không đủ liều lượng thì không có tác dụng. Tăng giảm liều lượng tùy từng người.
Theo dõi kết quả hoặc phản ứng sau khi ăn và sau một đến hai ngày mà thay đổi liều lượng và số lần ăn trong ngày cho thích hợp. Ăn lá vào buổi sáng khi bụng đói khi chưa ăn gì, các bữa ăn cách nhau 60-90 phút. Chú ý sau khi ăn xong, nằm yên tĩnh 15 phút duỗi thẳng chân tay, mắt nhắm không lo lắng, nghĩ ngợi lung tung. Đó là thời gian tự điều chỉnh. Không thực hiện thời gian nghỉ này thì kém hiệu quả.
Cây Hoàn Ngọc thuộc họ Acanthaceae, còn có tên là cây Tu Lình, cây Nhật Nguyệt hay cây Con Khỉ, cây Xuân Hoa, cây Thần dưỡng sinh, cây Trắc Mã, cây Điền Tích, cây Lan Điều. Tên khoa học là Pseuderanthemum Palatiferum Radik (Nees).
Xuất xứ cây này được gọi là cây “con khỉ” vốn là vì khỉ ăn chữa khỏi bệnh thủng ruột, nhưng sau đổi thành “Hoàn Ngọc” vì đã trả lại cho chú bé có hòn dái bị biến mất do trò chơi nghịch đá vào bìu nhau.
Cây thuốc rất đa năng. Từ hồi phục trạng thái của cơ thể khỏe mạnh đến các bệnh thông thường cũng như hiểm nghèo. Cây thuốc như cứu tinh trong nhiều trường hợp thúc bách, không rõ nguyên căn, nhưng sau khi ăn, diễn biến của bệnh tương tự như một hành động điều trị, điều chỉnh trạng thái cơ thể, chỗ nào yếu điều trị chỗ đó.
Có thể nêu cụ thể tác dụng cây thuốc như sau:
1. Khôi phục sức khỏe cho người ốm yếu, mệt mỏi, người già, suy nhược thần kinh, làm việc quá sức, khủng hoảng về tinh thần và thể lực.
2. Cảm cúm nhiệt độ cao, rối loạn tiêu hóa.
3. Chấn thương chảy máu, dập gãy cơ thể, dùng như nước uống và thuốc đắp. Ðặc biệt hiệu nghiệm với vết thương sọ não.
4. Khi bị nhiều bịnh một lúc như: Bệnh đường ruột, cảm cúm, gan, thận . . .
5. Ðau dạ dầy, chảy máu đường ruột, lở loét hành lá tràng, viêm loét đại tràng, trĩ nội.
6. Ðau gan xơ gan cổ trướng.
7. Viêm thận, viêm đường tiết niệu, đái ra máu, đái buốt, đái đục, đái rắt, bìu đau nhức. Sau khi uống hoặc ăn 150 lá đến 200 lá khỏi hẳn, tràn dịch màng phổi chữa đều tốt.
8. Ðau bên trong không rõ nguyên nhân.
9. Ðau mắt đỏ, mắt trắng, đau ứ máu.
10. Phụ nữ đang cho con bú bị sa dạ con cũng ăn lá thuốc không ảnh hưởng gì đến sữa.
11. Ðối với người có bệnh huyết áp cao hoặc thấp ăn lá thuốc đều có hiệu quả, ổn định được thần kinh, rối loạn thần kinh thực vật đều chữa khỏi.
12. Có thể dùng cho chó Nhật, như đẻ một ngày cho ăn lá sạch ngay. Gà chọi sau khi chọi cho ăn lá nó khôi phục sức gấp 3 lần.
Theo tôi dùng chữ “thần dược” với cây thuốc nầy cũng không quá, là một nhà nghiên cứu tôi muốn đặt câu hỏi tại sao để chúng ta bàn luận. Tại sao khi ăn thuốc có khả năng hiệu chỉnh làm cơ thể ổn định? Có lẽ nhờ phân tích hóa chất gì đó đã tạo nên những hiệu quả như vậy.
Chúng ta tốn rất nhiều thời gian và phải có thí nghiệm tốt. Theo kinh nghiệm trong dân gian, ta hãy rút ra từ thực tế. Ví dụ: suy nhược thần kinh nặng, huyết áp cao, huyết áp thấp, đái ra máu, đái rắt đều chữa được rất nhanh chóng. Có những bệnh xem như đối lập nhau cho một loại thuốc nhưng ngược lại thuốc vẫn chữa được phải chăng theo quy luật bảo toàn, cơ thể con người có khả năng bảo tồn lấy sức khỏe nên đã tự động tăng sức đề kháng hoặc tự điều chỉnh, tự cân bằng tương đối để thắng bệnh tật. Do đó hầu hết các bệnh đều tự khắc phục được.
Ở đây, khi ta dùng “Hoàn ngọc”, lá thuốc này có tác dụng chữa bệnh như châm cứu, tức là tự động điều chỉnh lại cơ thể nhưng hoàn toàn tự động hoá để khắc phục bệnh tật do tự tác dụng, tự cân bằng âm dương. Vì vậy cây còn có tên là “Nhật Nguyệt”. Chính vì thế mới có khả năng chữa nhiều bệnh cùng một lúc như vậy. Chính từ những suy nghĩ đó, chúng tôi đã vận dụng để chữa được rất nhiều bệnh và phục hồi sức khỏe. Tuy nhiên với từng người còn phải có liều lượng cho phù hợp do tính chất cân bằng âm dương và hàn nhiệt của từng người.
Mô tả cây thuốc
Ðây là loại cây lá dài nhọn, mặt sau hơi nhạt, không bền mà chỉ vàng một chút là rụng ngay.
Cây có thể cao 1-2 m (nếu trồng trên đất vườn nhà), sống lâu năm. Thân cây xanh hoặc tím lục, khi già chuyển thành màu nâu, phân ra nhiều mảnh. Lá mọc đối xứng hình mũi mác, hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành, lưỡng tính. Quả nang 2 ổ, mỗi ổ chứa 2 hạt. Mùa hoa từ tháng 4 đến tháng 5 âm lịch. Tuy nhiên nhiều người nói trồng xuân hoa đã 3-4 năm nhưng chưa thấy ra hoa, do thời tiết hay do bị hái lá, chưa rõ nguyên nhân?!
Cây rất dễ trồng, chỉ cần dùng một nhánh con giâm vào đất vườn nhà hoặc trồng trong chậu kiểng. Cây chịu đất xốp và có độ ẩm trung bình. Trồng khoảng trên 2 tháng là có thể dùng làm thuốc chữa bệnh.
Lưu ý: theo lương y Đinh Công Bảy, Tổng thư ký Hội Dược liệu TP SG, còn có loại cây Hoàn ngọc lá dài, màu xanh đậm, thân bò, trên 1 m, không dùng chữa bệnh.
(Theo: TS Trần Công Khánh, GS Phạm Khuê, Từ điển Bách khoa dược học (1997), báo LĐ 12/4/2001, SGGP, Tuổi Trẻ, 5/5/2003, VE 28/11/2004)